CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN A: LỀ LUẬT – NÊN GIỮ HAY LÀM TRỌN?

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN Năm A

Suy niệm Tin Mừng Mt 5:17-37

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

Luật lệ: giữ trọn hay làm nên trọn?

Đối với người Do Thái: Lề luật có tầm quan trọng số một. Thái độ trước lề luật chính là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá một con người. Đức Giê-su cũng được các đồng bào của Người đánh giá và chấp nhận dựa trên tiêu chuẩn này, vì thế mà Người lên tiếng tuyên bố: “Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” lề luật.

Thật ra: không ai có quyền bãi bỏ luật lệ, ngoại trừ chính vị ra luật, hay nhà làm luật. Trong Ít-ra-en, chỉ mình Đức Chúa Gia-vê mới có quyền này, ngay cả Mô-sê cũng không, vì ông chỉ là người truyền đạt, cho dầu sau này bộ luật có mang tên ông: ‘luật Mô-sê’. Vì luật là do Đức Chúa ban hành nên không ai được có quyền gì trên nó, ngay cả kiện toàn nó đi nữa. Tự nó, luật này đã hoàn hảo lắm rồi; con người có chăng chỉ có thể giải thích, nhưng đó là bổn phận dành riêng cho các luật sĩ. Hiểu như thế thì lời công bố của Đức Giê-su có thể bị coi là lộng ngôn, vì không ai có quyền bãi bỏ cũng như không ai được phép ‘kiện toàn’ – sửa chữa bộ luật do Mô-sê đã truyền lại.

Thông thường thì người ta sẽ coi như phá luật, những kẻ không cặn kẽ tuân giữ lề luật; rõ ràng nhóm Biệt Phái và luật sĩ xét đoán Đức Giê-su theo tiêu chuẩn đó. Họ liệt Người vào hạng tội lỗi, vì cho rằng Người có thái độ coi thường, bất tuân luật thánh, cụ thể trong việc giữ các qui định ngày Sa-bát và các nghi thức tẩy rửa.

Về phần mình, Đức Giê-su luôn khảng định: việc căn kẽ giữ luật Mô-sê là cần thiết, vì “một chấm một phết trong lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành”. Các môn đệ chắc chắn hiểu rõ điều đó cho nên sau này, kể cả sau khi Đức Giê-su đã về trời, cộng đoàn tính hữu vẫn lo tuân giữ căn kẽ luật Mô-sê. Các tông đồ còn muốn các tín hữu (nhất là những ai gốc Do Thái giáo) phải tiếp tục giữ trọn luật pháp theo lời Chúa dạy: “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời”. Tuy nhiên, sứ mạng đích thực của Đức Giê-su không nhằm kêu gọi dân chúng giữ luật; điều này đã được các Pha-ri-sêu, các luật sĩ… và Gio-an Tiền hô, bằng nhiều cách khác nhau, làm quá tốt. Người khảng định: “Thầy đến… để kiện toàn luật Mô-sê!” và không chỉ Người, mà bất cứ kẻ nào tin vào Người cũng phải kiện toàn lề luật như thế: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời”. Tuy nhiên tác giả Mát-thêu thẳng thắn muốn các tín hữu gốc Do Thái (là đối tượng chính của sách Tin Mừng ông viết) phải hiểu rằng: Đức Giê-su và các lời Người dạy, tuy không chống lại luật Mô-sê nhưng lại cao trọng hơn rất nhiều: “Luật xưa dạy rằng…. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” Nếu hiểu được như thế, thì ta sẽ phải hiểu ra sao đây về các khảng định rất trái chiều trên?

Trước hết ở đây ta không nên hiểu Đức Giê-su đến để giới thiệu mình như một nhà lập pháp mới (legislator novus), theo nghĩa: đã có giao ước mới thì đòi phải tuân giữ một luật pháp mới, cũng như giao ước cũ thì phải tuân giữ luật cũ của Mô-sê. Không, Đức Giê-su không phải là nhà làm luật: Tin Mừng của Người sẽ làm cho mọi luật lệ nên trọn, không cứ luật Mô-sê mà mọi luật pháp khác nữa. Không có Người, bất luận luật lệ nào, cho dù tốt lành và hoàn chỉnh tới mấy, vẫn chưa có thể được coi là trọn; chỉ duy nhất một mình Người mà thôi mới có thể làm cho mọi thứ luật pháp được nên trọn. Ai tin vào Đức Giê-su, đặc biệt qua biến cố Thập Giá và Phục Sinh, đều có khả năng kiện toàn, hay làm cho nên trọn bất kỳ luật lệ nào họ nắm giữ, dầu là luật dân sự bất toàn hay luật tôn giáo thánh thiện. Chính lòng thương xót từ ái cứu độ của Thiên Chúa, mà Đức Giê-su đã mạc khải, mới là nền tảng duy nhất để canh tân và kiện toàn mọi thứ luật lệ. Chỉ cần nhìn vào các trường hợp được nêu lên trong bài Tin Mừng: không giết người, không ngoại tình, không ly dị, không thề gian dối…, ta mới thấy: chỉ Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa mới có thể kiện toàn và làm cho chúng nên trọn tới thế. Sự nên trọn này chắc chắn không hệ tại ở luật pháp đó hoàn chỉnh hơn hay kém, nhưng hệ tại ở thái độ bình an và tự do ta có khi nắm giữ các lề luật đó, nhất là trong tư thế một người con được Thiên Chúa yêu thương. Không tin tuyệt đối vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Ki-tô Giê-su, ta sẽ không bao giờ có được thái độ này, và đương nhiên sẽ thấy khó có thể chấp nhận các đòi hỏi của luật pháp, kể cả những lề luật hoàn thiện và cao đẹp nhất.

Đã từng là một Biệt Phái nhiệt tình, Phao-lô hơn ai hết phải biết rõ sự cao đẹp của luật pháp Mô-sê; nhưng cũng chính vì thế mà ông hơn ai hết, càng nắm bắt giới hạn của nó so với Tin Mừng. Trong chương 3 thư gởi giáo đoàn Ga-lát ông lấy hình ảnh người giám hộ để chỉ luật Mô-sê tự nó rất thánh thiện (và cũng thế bất cứ luật lệ nào khác, kể cả luật Hội Thánh), và hình ảnh con cái tự do để chỉ sự ‘kiện toàn – nên trọn’ của niềm tin vào Đức Ki-tô Giê-su. Tôi thiết nghĩ ông quả đã nắm rất vững vấn đề: “Khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa… vì tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa…” (Gl 3:25-26).

Ôi, niềm tin Ki-tô hữu vào tình yêu Thiên Chúa nhân ái thứ tha có khả năng nâng chúng ta lên cao biết mấy, vượt xa các kiểm tỏa của luật pháp, cũng như mọi lo lắng sợ hãi của thưởng phạt nghiêm minh!

Trong tư cách là công dân Việt Nam, là Ki-tô hữu, là tu sĩ – linh mục… con phải khoác lên mình biết bao nhiêu thứ luật lệ. Con thâm tín một điều rằng: không một luật lệ nào trong số đó tự nó có thể cứu thoát được con. Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con được như Phao-lô luôn xác tín rằng: chỉ có niềm tin vào Chúa cứu độ và từ nhân mới giúp con làm cho các luật lệ – bất cứ luật nào cũng đều nên trọn; đồng thời xin biến con thành con cái tự do đích thực của Chúa Cha nhân ái trên trời. A-men

Từ khoá:

Bài viết liên quan Mùa Thường Niên