LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI: LECTIO DIVINA

LECTIO DIVINA LỄ MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

 Lc 1, 39-56

 

“Blessed is she who believed that the promise made her by the Lord would be fulfilled” “Phúc cho em là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện”
1. LECTIO 1.    Bài Đọc 
a) Opening Prayer: a)    Lời nguyện mở đầu:
Holy Spirit, Spirit of Wisdom, of Science, of Intelligence, of Counsel, fill us, we pray, with the knowledge of the Word of God, fill us with every kind of spiritual wisdom and intelligence, so as to be able to understand it at depth. May we, under your guidance be able to understand the Gospel of this Marian solemnity. Holy Spirit, we need you, you, the only one who continually moulds in us the figure and the form of Jesus. And we turn to you, Mary, Mother of Jesus and of the Church, you who have lived the inebriating and totalising Presence of the Holy Spirit, you who have experienced the power of his force in you, who has seen it operating in your Son Jesus from the time when he was in the maternal womb, open our heart and our mind, so that they may be docile to listen to the Word of God. Lạy Chúa Thánh Thần, Thần Khí của sự Khôn Ngoan, của Khoa Học, của Tri Thức, của Khuyên Bảo, xin Chúa hãy đổ tràn đầy chúng con.  Chúng con cầu xin, cùng với sự hiểu biết Lời Chúa, xin đổ tràn đầy chúng con với mọi sự khôn ngoan và trí thông minh tinh thần, để chúng con có thể hiểu thấu Lời Chúa.  Nguyện xin cho chúng con, dưới sự hướng dẫn của Chúa, có thể hiểu được đoạn Tin Mừng trang trọng này về Đức Trinh Nữ Maria.  Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con cần Chúa, vì Chúa là Đấng duy nhất uốn nắn chúng con một cách liên tục theo giống hình ảnh và hình thể của Chúa Giêsu.  Và chúng con hướng về Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và Mẹ của Giáo Hội, Mẹ là người đã sống say sưa và hoàn toàn trong sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Mẹ là người đã có kinh nghiệm về quyền năng của Chúa Thánh Thần trong Mẹ, Mẹ là người đã thấy Chúa Thánh Thần hoạt động nơi Chúa Giêsu, con Mẹ, từ lúc còn ở trong lòng Mẹ.  Xin hãy mở rộng tâm trí chúng con, để chúng con có thể ngoan ngoãn lắng nghe Lời Chúa.
b) Reading of the Gospel: b)  Bài Tin Mừng:
Mary set out at that time and went as quickly as she could into the hill country to a town in Judah. She went into Zechariah’s house and greeted Elizabeth. Now it happened that as soon as Elizabeth heard Mary’s greeting, the child leapt in her womb and Elizabeth was filled with the Holy Spirit. She gave a loud cry and said, ‘Of all women you are the most blessed, and blessed is the fruit of your womb. Why should I be honoured with a visit from the mother of my Lord? Look, the moment your greeting reached my ears, the child in my womb leapt for joy. Yes, blessed is she who believed that the promise made her by the Lord would be fulfilled.’ Trong những ngày ấy, bà Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa.  Bà vào nhà ông Giacaria và chào bà Êlisabéth.  Sau khi bà Êlisabéth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà và bà Êlisabéth được đầy Chúa Thánh Thần.  Bà kêu lớn tiếng rằng:  “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ và con lòng em cũng được chúc phúc.  Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm?  Vì này, tai tôi vừa nghe lời em chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi.  Phúc cho em là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện.” 
And Mary said: My soul proclaims the greatness of the Lord

and my spirit rejoices in God my Saviour;

because he has looked upon the humiliation of his servant. Yes, from now onwards all generations will call me blessed,

for the Almighty has done great things for me. Holy is his name,

and his faithful love extends age after age to those who fear him.

He has used the power of his arm, he has routed the arrogant of heart.

He has pulled down princes from their thrones and raised high the lowly.

He has filled the starving with good things, sent the rich away empty.

He has come to the help of Israel his servant, mindful of his faithful love

-according to the promise he made to our ancestors — of his mercy to Abraham and to his descendants for ever.

Mary stayed with her some three months and then went home.

Và bà Maria nói:  “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa,

và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi,

vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. 

Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại và danh Ngài là thánh. 

Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. 

Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. 

Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. 

Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. 

Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. 

Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời.” 

Maria ở lại với bà Êlisabéth độ ba tháng, đoạn người trở về nhà mình.

c) Moments of prayerful silence: c)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện
Silence is a quality of the one who knows how to listen to God. Try to create in yourself an atmosphere of peace and of silent adoration. If you are capable to be in silence before God, you will be able to listen to his breath which is Life. Thinh lặng là một đặc tính của những ai biết làm thế nào để lắng nghe Thiên Chúa.  Bạn hãy cố gắng tạo cho mình một bầu không khí của an bình và tôn thờ im lặng.  Nếu bạn có khả năng thinh lặng trước Thiên Chúa, bạn sẽ có thể lắng nghe hơi thở của Người đó là Sự Sống.
2. MEDITATIO 2.    Suy NGẮM
a) Key to the Reading: a)    Chìa khóa dẫn đến bài đọc:
Blessed are you among women Em được chúc phúc hơn mọi người nữ
In the first part of today’s Gospel, the words of Elizabeth resound: “Blessed are you among women”, preceded by a spatial movement. Mary leaves Nazareth, situated in the North of Palestine, to go to the South, approximately fifty kilometres, to a place which tradition has identified as the present day Ain Karem, not too far from Jerusalem. The physical movement shows the interior sensibility of Mary, who is not closed on herself, to contemplate, in a private and intimate way, the mystery of the Divine Maternity which is being accomplished in her, but she is projected to the path of charity. She moves in order to go and help her elderly cousin. Trong phần đầu của bài Tin Mừng hôm nay, những lời của bà Êlisabéth kêu lớn tiếng:  “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ”, được dẫn trước bởi một cuộc di chuyển không gian.  Mẹ Maria rời Nagiarét, một làng nằm ở phía bắc của đất Paléstine, để đi về phía nam, khoảng chừng năm mươi cây số, đến một nơi mà theo tương truyền đã xác định là vùng Ain Karem ngày nay, không xa thành Giêrusalem bao nhiêu.  Việc di chuyển thể lý cho thấy sự nhạy cảm nội tâm của Mẹ Maria, người không sống cho riêng mình, để chiêm niệm, trong một cách riêng tư và thân mật, mầu nhiệm của Mẹ Thiên Chúa đang được hoàn thành trong người của Mẹ, nhưng Mẹ lại chọn con đường hướng về lòng yêu thương tha nhân.  Mẹ đã lên đường để giúp cho người chị họ cao tuổi.  
Mary’s going to Elizabeth has the added connotation ‘in haste’ which Saint Ambrose interprets as follows: “Mary set out in haste to the hill country, not because she did not believe the prophecy or because she was uncertain of the announcement or doubted of the proof, but because she was pleased with the promise and desirous to devotedly fulfil a service, with the impulse that she received from her intimate joy… The grace of the Holy Spirit does not entail slowness”. The reader, though, knows that the true reason of the trip is not indicated, but can get it through information deduced from the context. The angel had communicated to Mary the pregnancy of Elizabeth, already in the sixth month (cfr. v. 37). Besides the fact that she remained there three months (cfr. v. 56), just the time so that the child could be born, allows us to understand that Mary intended to help her cousin. Mary runs, and goes where there is an urgent need, the need for help, showing, in this way, a clear sensibility and concrete availability. Việc đi thăm bà Êlisabéth của Mẹ Maria đã được tăng thêm ý nghĩa với những chữ “trong vội vã” mà thánh Ambrose đã diễn giải như sau:  “Mẹ Maria vội vã ra đi đến vùng cao nguyên, không phải vì Mẹ không tin lời tiên báo hay vì Mẹ không chắc chắn về lời thông báo của Thiên Sứ hay nghi ngờ về bằng chứng, mà vì Mẹ đã vui mừng với lời hứa và mong muốn làm tròn sứ vụ một cách tân tụy, với sự thôi thúc Mẹ đã nhận được từ niềm hân hoan mật thiết trong lòng của Mẹ ….  Ân huệ của Chúa Thánh Thần không gây ra sự chậm chạp”.  Tuy nhiên, người đọc biết rằng lý do thực sự của chuyến đi đã không được nhắc tới, nhưng có thể nhận thấy nó qua các dữ kiện rút ra từ bối cảnh.  Thiên thần đã truyền tin cho Đức Maria biết về việc mang thai của bà Êlisabéth, đã được sáu tháng (xem câu 37).  Ngoài ra, Mẹ Maria ở lại đó ba tháng (xem câu 56), đúng thời điểm để hài nhi có thể sinh ra, giúp chúng ta hiểu được rằng Đức Maria có ý định muốn giúp người chị họ.  Mẹ Maria chạy, và đi về nơi có nhu cầu cấp thiết, nhu cầu cần được giúp đỡ, theo cách này, cho thấy một cảm giác rõ ràng và lòng sẵn sàng cụ thể. 
Together with Mary, Jesus, in his mother’s womb, moves with her. From here it is easy to deduce the Christological value of the episode of the visit of Mary to her cousin: above all, the attention is for Jesus. At first sight, it could seem to be a scene concentrated on the two women, in reality, what is important for the Evangelist is the prodigious fact present in their conceiving. Mary moving tends, in last instance, to have the encounter between the two women. Cùng với Mẹ Maria, thai nhi Giêsu, trong lòng Mẹ, cùng đi với Người.  Từ đây thật dễ dàng suy ra giá trị Kitô giáo của việc đi thăm người chị họ của Đức Maria:  hơn hết cả, sự chú ý được hướng về Chúa Kitô.  Thoạt tiên, mọi việc hình như có vẻ chú trọng vào hai người phụ nữ; thực ra, điều quan trọng đối với tác giả Phúc Âm là sự kiện phi thường hiện hữu trong việc thụ thai của họ.  Mẹ Maria có khuynh hướng chăm sóc, như trong thí dụ vừa rồi, để có cuộc gặp gỡ giữa hai người phụ nữ.
As soon as Mary enters into the house and greets Elizabeth, the small John leaped in her womb. According to some this leaping is not comparable to the changing place of the foetus, which is experienced by every pregnant woman. Luke uses a particular Greek verb which precisely means “jumping”. Wishing to interpret the verb a bit literally, it could be indicated with “dancing”, thus excluding a physical phenomenon only. Someone has thought that this ‘dance’ could be considered as a form of ‘homage’ which John renders to Jesus, inaugurating, though not yet born, that attitude of respect and of subjection which will characterize his life: “After me is coming someone who is more powerful than me, and I am not fit to kneel down and undo the strap of his sandals” (Mk 1, 7). One day, John himself will give witness: “it is the bridegroom who has the bride; and yet the bridegroom’s friend, who stands there and listens to him, is filled with joy at the bridegroom’s voice. This is the joy that I feel and it is complete. He must grow greater, I must grow less” (Jn 3, 29-30). Thus Saint Ambrose comments: “Elizabeth was the first one to hear the voice, but John is first to perceive the grace”. We find a confirmation of this interpretation in the words themselves of Elizabeth which, repeating the same Greek verb in v. 44. which was already employed in v. 41, says: “The child in my womb leapt for joy”. Luke, with these particular details, has wished to evoke the prodigies which took place in the intimacy of Nazareth. It is only now, thanks to the dialogue with an interlocutor, the mystery of the divine maternity leaves aside its secrecy and its individual dimension, to become a notable fact, and object of appreciation and of praise. Ngay khi Mẹ Maria vào nhà và chào bà Êlisabéth, thai nhi Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ.  Theo một số người, việc nhảy mừng này không thể so sánh với việc chuyển mình của thai nhi, mà mọi phụ nữ mang thai thường trải qua.  Thánh Luca xử dụng một động từ tiếng Hy Lạp mà một cách chính xác có nghĩa là “nhảy”.  Với mong muốn giải thích động từ này theo nghĩa đen một chút, nó có thể được hiểu với nghĩa “nhảy múa”, như thế ngoại trừ một hiện tượng vật lý mà thôi.  Có người đã nghĩ rằng động từ “nhảy” này có thể được coi như là một hình thức “tỏ lòng cung kính” của thai nhi Gioan dành cho Chúa Giêsu, từ lúc bắt đầu, mặc dù chưa được sinh ra, thái độ của sự kính trọng và khuất phục sẽ là đặc điểm của cuộc đời Gioan:  “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người” (Mc 1:7).  Rồi một ngày, chính Gioan sẽ là người chứng:  “Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng.  Đó là niềm vui của ta, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn.  Người phải nổi bật lên, còn ta phải lu mờ đi” (Ga 3:29-30).  Vì thế thánh Ambrose đã nhận định:  “Bà Êlisabéth là người đầu tiên được nghe tiếng nói, nhưng Gioan lại là người đầu tiên nhận lãnh ân sủng”.  Chúng ta tìm thấy một sự xác nhận của lời giải thích này trong những chữ dùng của bà Êlisabéth, một động từ Hy-Lạp trong câu 41, đã được lập lại trong câu 44:  “Hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi”.  Thánh sử Luca, với những chi tiết cụ thể này, đã muốn gợi lên những điều kỳ diệu đã xảy ra tại nơi thân thiết Nagiarét.  Chỉ đến bây giờ, nhờ vào cuộc đối thoại với một người khác, mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa mới mặc khải sự bí mật và những gì thuộc về cá nhân để trở nên một thực tế đáng chú ý, và đối tượng của sự nhận thức và khen ngợi.
The words of Elizabeth, “Blessed are you among women and blessed is the fruit of your womb! Why should I be honoured with a visit from the mother of my Lord?” (vv. 42-43). With a Semitic expression which is equivalent to a superlative (“among women”), the Evangelist wishes to attract the attention of the reader on the function of Mary: to be the “Mother of the Lord”. And, then, a blessing is reserved for her (“Blessed are you”) and a blessed Beatitude. In what does this one consist? It expresses Mary’s adherence to the Divine Will. Mary is not only the receiver of a mysterious design which makes her blessed, but also a person who knows how to accept and adhere to God’s will. Mary is a creature who believes, because she trusts in a plain, simple word and which she has vested with her “yes” of love. And Elizabeth acknowledges this service of love, identifying her as “blessed as mother and blessed as believer”. Theo lời của bà Êlisabéth:  “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ và con lòng em cũng được chúc phúc.  Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm?” (các câu 42-43).  Với cách diễn tả của người Do-Thái, các chữ này tương đương với một bậc cao trọng (“trong số các người nữ”), tác giả muốn thu hút sự chú ý của người đọc về chức phận của Đức Maria:  là “Mẹ Thiên Chúa”.  Và sau đó, một ân sủng đã dành riêng cho Mẹ (“Em được chúc phúc”) và một chân phúc đã được ban.  Việc này bao gồm những gì?  Nó thể hiện việc Mẹ Maria tuân theo Thánh Ý Thiên Chúa.  Mẹ Maria không chỉ là người nhận lãnh một kế hoạch mầu nhiệm làm cho Mẹ được chúc phúc, mà Mẹ còn là người biết chấp nhận và tuân theo ý Chúa.  Mẹ Maria là một tạo vật có lòng tin, bởi vì Mẹ đã tin tưởng vào lời nói đơn sơ và ký thác vào câu trả lời “xin vâng” vì tình yêu của Mẹ.  Và bà Êlisabéth nhận biết được sứ vụ tình yêu này, xác định Mẹ là “được chúc phúc làm mẹ và được chúc phúc làm người tin vào quyền năng Thiên Chúa”.
In the meantime, John perceives the presence of his Lord and exults, expressing with that interior movement the joy which springs from that contact of salvation. Mary will be the interpreter of that event in the hymn of the Magnificat. Trong khi đó, thai nhi Gioan nhận thức được sự hiện diện của Chúa và mừng rỡ hân hoan, biểu lộ với việc nhảy múa trong lòng mẹ để từ đó liên hệ với ơn cứu độ.  Mẹ Maria sẽ là người thông dịch cho sự kiện đó trong bài thánh ca Magnificat.
b) A song of love: b)    Bài ca tình yêu:
In this song Mary considers herself part of the anawim, of the “poor of God”, of those who “fear God” placing in Him all their trust and hope and who, on the human level, do not enjoy any right or prestige. The spirituality of the anawim can be synthesized with the words of Psalm 37, 79: “In silence he is before God and hopes in him”, because “those who hope in the Lord will possess the earth”. Trong bài ca này Mẹ Maria coi mình như một phần của những kẻ nghèo khó, “người nghèo của Thiên Chúa”, của những người “kính sợ Thiên Chúa”, đặt tất cả mọi tin tưởng vào Người, và hy vọng, vì trong mức độ hiểu biết của con người, họ không được hưởng bất kỳ một quyền lợi hay sự ưu đãi nào.  Tinh thần của những kẻ nghèo khó có thể được tổng hợp với những lời của Thánh Vịnh 37, các câu 7-9:  “Hãy thinh lặng trước mặt Chúa và đợi trông Người”, bởi vì “những ai trông đợi Chúa, sẽ được đất hứa làm gia nghiệp”.
In Psalm 86, 6 the one who prays, turning to God says: Give your servant your force”: Here the term ‘servant’ expresses his being subjected, as well as the sentiment of belonging to God, of feeling secure with him. Trong Thánh Vịnh 86, câu 6, người ta cầu nguyện, hướng về Thiên Chúa mà rằng:  “Xin hãy ban cho người tôi tớ Chúa nguồn trợ lực của Người”.  Thuật ngữ “tôi tớ” ở đây diễn tả người ấy đã bị khất phục, cũng như cảm nghĩ thuộc về Thiên Chúa, của cảm giác được an toàn với Người.
The poor, in the strictly Biblical sense, are those who place their trust unconditionally in God; this is why they are to be considered, qualitatively, the best part, of the People of Israel. Kẻ nghèo khó, theo sát nghĩa của Thánh Kinh, là những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa một cách vô điều kiện; đây là lý do tại sao họ được đoái hoài tới, về phẩm chất, phần tốt nhất, của dân tộc Do-Thái.
The proud, instead, are those who place all their trust in themselves. Thay vào đó, những kẻ tự hào là những ai lại đặt tất cả tin tưởng của họ vào bản thân mình.
Now, according to the Magnificat, the poor have a thousand reasons to rejoice, because God glorifies the anawim (Psalm 149, 4) and humbles the proud. An image taken from the New Testament, which expresses very well the attitude of the poor of the Old Testament, is that of the Publican who with humility beats his breast, while the Pharisee being complacent of his merits is being consumed by his pride (Lk 19, 9-14). Definitively, Mary celebrates all that God has done in her and all that he works in every creature. Joy and gratitude characterize this hymn to salvation which recognizes the greatness of God, but which also makes great the one who sings it. Bây giờ, theo bài ca Kinh Ngợi Khen (Magnificat), người nghèo có một ngàn lý do để vui mừng, bởi vì Thiên Chúa ban cho kẻ nghèo hèn được vẻ vang (Tv 149:4) và những kẻ khiêm tốn được hãnh diện.  Một hình ảnh được trích từ Tân Ước diễn tả rất rõ thái độ của người nghèo hèn trong Cựu Ước, là trong đó người thu thuế giàu có đã tự khiêm nhường đấm ngực, trong khi người Biệt Phái lại tự mãn với các công lao của mình và đang để cho niềm tự mãn chi phối (Lc 19:9-14).  Một cách dứt khoát, Mẹ Maria ca tụng tất cả những việc Thiên Chúa đã thực hiện trong người Mẹ và tất cả những việc Người đã làm cho mọi tạo vật.  Niềm hân hoan và lòng biết ơn là đặc tính của bài thánh ca này về ơn cứu độ công nhận sự cao cả của Thiên Chúa, mà cũng làm cho người hát bài hát đó trở nên tuyệt vời.
c) Some question for meditation: c)    Một vài câu hỏi gợi ý:
– Is my prayer, above all, the expression of a sentiment or celebration and acknowledgement of God’s action?          Lời cầu nguyện của tôi, hơn hết cả, là sự biểu hiện tình cảm hay là việc tán dương và xác nhận hoạt động của Thiên Chúa?  
– Mary is presented as the believer in the Word of the Lord. How much time do I dedicate to listening to the Word of God?          Đức Maria được xem như là người tin vào Lời của Chúa.  Tôi đã dành bao nhiêu thời gian để chỉ lắng nghe Lời Chúa?   
– Is your prayer nourished from the Bible, as was that of Mary? Or rather am I dedicated to devotions which produce a continuous tasteless and dull prayer? Are you convinced that to return to Biblical prayer is the assurance to find a solid nourishment, chosen by Mary herself ?          Lời cầu nguyện của bạn có đã được nuôi dưỡng từ Thánh Kinh, như lời cầu nguyện của Mẹ Maria không?  Hay đúng hơn tôi đã có siêng năng cho việc sùng kính với những lời kinh cầu liên tục nhạt nhẽo và buồn tẻ không?  Bạn có tin rằng tìm về lời cầu nguyện trong Kinh Thánh là sự bảo đảm để tìm thấy sự nuôi dưỡng chắc chắn, như Mẹ Maria đã chọn không?
– Are you in the logics of the Magnificat which exalts the joy of giving, of losing in order to find, of accepting, the happiness of gratuity, of donation?          Bạn có nhận thấy được lý lẽ của bài thánh ca Magnificat đã tán tụng niềm hân hoan của sự cho đi, đánh mất để được tìm thấy, của sự nhận lãnh, niềm hạnh phúc của sự tưởng thưởng, của sự biếu tặng không?   
3. SALESIAN CONSTITUTIONS 3. HIẾN LUẬ SALÊDIÊNG
92.    Mary  in the life and prayer of the Salesian

Mary, Mother of God, holds a unique place in the history of salvation.

She is a model of prayer and pastoral love, the teacher of wisdom and guide of our Family.

We contemplate and imitate her faith, her concern for the needy, her fidelity at the hour of the cross, and her joy at the wonders wrought by the Father.

Mary Immaculate, Help of Christians, leads us to the fullness of our offering to the Lord and gives us courage for the service of our brethren.

We develop a strong filial devotion to her.  We recite the rosary each day and celebrate her feasts to encourage a more convinced  and personal imitation.

92. Đức Maria trong đời sống và trong kinh nguyện của người Salêdiêng

Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, chiếm một vị trí độc đáo trong lịch sử cứu độ.

Mẹ là gương mẫu cầu nguyện và đức ái mục tử, thày dạy sự khôn ngoan và người hướng dẫn Gia đình chúng ta.

Chúng ta chiêm ngắm và bắt chước lòng tin của Mẹ, mối ân cần lo lắng cho những người nghèo khó, lòng trung kiên trong giờ phút thập giá và niềm vui trước những việc kỳ diệu Cha đã thực hiện.

Đức Maria Vô nhiễm và Phù hộ, giáo dục chúng ta biết tận hiến trọn vẹn cho Chúa và thông ban cho ta lòng can đảm phục vụ các anh em.

Chúng ta nuôi dưỡng một lòng sùng kính con thảo và mãnh liệt đối với Mẹ. Chúng ta lần hạt mỗi ngày và cử hành các lễ của Mẹ để thúc đẩy mình bắt chước Mẹ cách xác tín và cá nhân hơn.

4. ORATIO 4. Cầu Nguyện
a) Psalm 44 (45) a)     Thánh Vịnh 44 (45)
The Psalm in this second part, glorifies the Queen. In today’s Liturgy these verses are applied to Mary and celebrate her greatness and beauty. Phần thứ hai này của bài Thánh Vịnh, ca ngợi Nữ hoàng.  Trong bài Phụng Vụ hôm nay những câu Thánh Vịnh này được áp dụng cho Mẹ Maria và tán dương vẻ đẹp và sự cao trọng của Mẹ.
In your retinue are daughters of kings,

the consort at your right hand in gold of Ophir.

Listen, my daughter,

attend to my words and hear;

forget your own nation

and your ancestral home,

then the king will fall in love with your beauty;

he is your lord, bow down before him.

Her companions are brought to her,

they enter the king’s palace with joy and rejoicing.

Hàng cung nữ, có những vì công chúa,
bên hữu ngài, hoàng hậu sánh vai,
trang điểm vàng Ô-phia lộng lẫy.
Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào,
đưa mắt nhìn và hãy lắng tai,
quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ.
Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái,
hãy vào phục lạy: “Người là Chúa của bà.”
Đẹp lộng lẫy, này đây công chúa,
mặc xiêm y dệt gấm thêu vàng,
phục sức huy hoàng, được dẫn tới Quân Vương,
cùng các trinh nữ theo sau hầu cận.
Lòng hoan hỷ, đoàn người tiến bước,
vẻ tưng bừng, vào tận hoàng cung.
b) Final Prayer: b)  Lời nguyện kết
The prayer which follows is a brief meditation on the maternal role of Mary in the life of the believer: “Mary, woman who knows how to rejoice, who knows how to exult, who allows herself to be invaded by the full consolation of the Holy Spirit, teach us to pray so that we may also discover the source of joy. In Elizabeth’s house, your cousin, feeling accepted and understood in your most intimate secret, you burst out in a hymn of exultation of the heart, speaking of God, of you about your relationship with him, and of the unprecedented adventure already begun of being the Mother of Christ and of all of us, holy people of God. Teach us to give our prayer a rhythm of hope and tremors of joy, sometimes worn out by bitter whining and soaked with melancholy almost as obliged. The Gospel speaks to us about you, Mary, and of Elizabeth: both of you kept in your heart something, which you did not dare or you did not wish to manifest to anyone. But each one of you, felt understood by the other, on that prophetic day of the Visitation and you pronounced words of prayer and of feast. Your encounter becomes Liturgy of thanksgiving and of praise to your ineffable God. You, woman of a profound joy, you sang the Magnificat, in rapture and amazed at all that the Lord was operating in his humble servant. Magnificat is the cry, the explosion of joy, which explodes within each one of us, when one feels accepted and understood”. Lời nguyện sau đây là một đoạn suy gẫm ngắn gọn về vai trò làm mẹ của Đức Maria trong đời sống của người tín hữu:  “Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người phụ nữ biết thế nào để vui mừng, người biết thế nào để hân hoan, người đã để cho được chiếm hữu bởi sự an ủi hoàn toàn của Chúa Thánh Thần, xin hãy dạy cho chúng con cách cầu nguyện để chúng con có thể khám phá ra nguồn mạch của sự hân hoan.  Trong nhà bà Êlisabéth, chị họ của Mẹ, cảm giác được chấp nhận và được thông hiểu về bí mật thâm kín nhất của Mẹ, Mẹ đã thốt lên một bài thánh ca của lòng hân hoan, nói về Thiên Chúa, nói về mối quan hệ của Mẹ với Chúa, và về một cuộc phiêu lưu chưa từng có đã bắt đầu là làm Mẹ Thiên Chúa và là mẹ của chúng con, dân thánh của Thiên Chúa.  Xin Mẹ hãy dạy cho chúng con biết dâng lên lời nguyện của nhịp điệu hy vọng và những rung động của niềm hân hoan, những khi chúng con kiệt sức bởi than vãn đắng cay và thấm tràn với sầu muộn gần như là nghĩa vụ.  Phúc Âm nói với chúng con về Mẹ và bà Êlisabéth:  cả hai đều giữ trong lòng một điều gì đó mà cả hai không dám hoặc không muốn tỏ lộ cho bất cứ ai.  Nhưng trong mỗi người, cảm nghiệm được thông hiểu bởi người đối diện, trong ngày đã được nói trước về việc Thăm Viếng và Mẹ đã thốt lên những lời của cầu nguyện và của ngày lễ hội.  Cuộc gặp gỡ của Mẹ đã trở nên phần Phụng Vụ tạ ơn và ngợi ca Thiên Chúa khôn tả của Mẹ.  Mẹ, người phụ nữ với niềm vui sâu sắc, đã xướng lên bài Kinh Ngợi Khen Magnificat, trong sự sung sướng và ngạc nhiên trước tất cả những gì Chúa đã sắp đặt nơi người tôi tớ khiêm cung của Người.  Bài ca Magnificat là tiếng hò reo, lời nổ bừng của mừng vui, nổ tung trong mỗi người chúng ta, khi người ta cảm thấy được chấp nhận và được thấu hiểu”.
5. CONTEMPLATIO 5.    Chiêm Niệm
The Virgin Mary, the temple of the Holy Spirit, accepted with faith the Word and surrendered herself completely to the power of Love. Because of this she became the Icon of interiority, that is all recollected under the look of God and abandoned to the power of the Most High. Mary keeps silence about herself, because everything in her can speak about the wonders of the Lord in her life. Lạy Đức Trinh Nữ Maria, đền thờ của Chúa Thánh Thần, được chấp nhận với niềm tin tưởng vào Lời Chúa và hoàn toàn quy phục vào quyền năng Tình Yêu.  Vì chính điều này Mẹ đã trở nên biểu tượng của nội tâm, tất cả mọi việc được nhớ lại dưới cái nhìn của Thiên Chúa và chìm đắm vào quyền năng của Đấng Tối Cao.  Mẹ Maria đã giữ im lặng về chính mình, bởi vì tất cả mọi việc trong người Mẹ có thể nói lên những việc kỳ diệu lạ lùng của Chúa trong cuộc đời của Mẹ.

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

GB. Nguyễn Văn Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Suy niệm Hằng Ngày