LECTIO DIVINA LỄ MẸ SẦU BI

LECTIO DIVINA LỄ MẸ SẦU BI

NGÀY 15-9 : Lc 2, 33-35

 

“A sword will pierce your soul too” “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà”
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Almighty God, our creator and guide, may we serve you with all our hearts and know your forgiveness in our lives. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen. Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời đất và là Đấng chỉ đường của chúng con, Nguyện xin cho chúng con có thể phụng sự Chúa với tất cả tấm lòng Và biết được lòng khoan dung của Chúa trong đời sống chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, Con Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, Một Thiên Chúa, đến muôn thuở muôn đời.  Amen.
2) Gospel Reading : Luke 2, 33-35 2)  Tin Mừng : Lc 2, 33-35
As the child’s father and mother were wondering at the things that were being said about him, Simeon blessed them and said to Mary his mother, ‘Look, he is destined for the fall and for the rise of many in Israel, destined to be a sign that is opposed – and a sword will pierce your soul too – so that the secret thoughts of many may be laid bare.’ Khi ấy, cha và mẹ Chúa Giêsu đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà, và nói với Maria Mẹ Người rằng: “Đây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ”. Đó là lời Chúa.
3) Reflection 3)  Suy ngắm
• The first two chapters of the Gospel of Luke are not a history according to the meaning that we give to history. They rather serve more than everything else, as a mirror in which the converted Christians from Paganism, discover that Christ had come to fulfil the prophecies of the Old Testament and to respond to the more profound aspirations of the human heart. They are then, symbol and mirror of what was happening among the Christians at the time of Luke. The communities coming from Paganism were born from the communities of converted Jews, but they were diverse. The New did not correspond to what the Old imagined and expected. It was a “sign of contradiction” (Lk 2, 34), it caused tension and it was a source of great suffering, of pain. In the attitude of Mary the image of the People of God, Luke represents a model of how to persevere in the New, without being unfaithful to the Old.   Hai chương đầu của sách Tin Mừng Luca không phải là một câu chuyện lịch sử theo ý nghĩa mà chúng ta gán cho lịch sử.  Chúng dùng để phục vụ hơn là bất cứ điều gì khác, nó như một tấm gương phản chiếu mà trong đó những Kitô hữu tòng giáo từ lương dân, khám phá ra rằng Đức Kitô đã đến để thực hiện những lời tiên tri của Cựu Ước và để đáp ứng những khát vọng sâu xa hơn của trái tim nhân loại.  Sau đó, chúng là biểu tượng và là tấm gương của những gì đã xảy ra giữa các Kitô hữu vào lúc sách Tin Mừng Luca được viết.  Các cộng đoàn đến từ Lương Dân đã được khai sinh từ các cộng đoàn người Do Thái cải đạo, nhưng họ rất đa dạng.  Tân Ước không tương ứng với những gì Cựu Ước mường tượng và mong đợi.  Đó là “dấu hiệu của sự mâu thuẫn” (Lc 2:34), nó là cái cớ cho sự căng thẳng và là nguyên nhân của sự đau khổ tột cùng, của sự đớn đau.  Trong thái độ của Đức Maria là hình ảnh của Dân Chúa, tác giả Luca đại diện một mẫu mực cho cách làm thế nào để kiên trì trong Tân Ước, mà không phản bội lại Cựu Ước.
• In these two chapters of the Gospel of Luke, everything turns around the birth of the two children: John and Jesus. The two chapters make us feel the perfume of the Gospel of Luke. In them, the environment is one of tenderness and of praise. From the beginning to the end, there is praise and singing, because, finally, the mercy of God has been revealed in Jesus; he fulfils the promises made to the Fathers. And God fulfils them in behalf of the poor, of the anawim, like Elizabeth and Zechariah, Mary and Joseph, Anne and Simeon, the shepherds. All of them knew how to wait for his coming.   Trong hai chương này của sách Tin Mừng Luca, mọi việc xoay quanh việc chào đời của hai hài nhi:  ông Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu.  Hai chương này khiến cho chúng ta cảm thấy hương thơm của sách Tin Mừng Luca.  Trong đó, môi trường là sự dịu dàng và lời ngợi khen.  Từ đầu chí cuối, có lời ngợi khen và ca ngợi, bởi vì cuối cùng, lòng thương xót của Thiên Chúa đã được mặc khải trong Hài Nhi Giêsu; Chúa hoàn thành những lời hứa đã làm với các Tổ Phụ.  Và Thiên Chúa hoàn thành chúng nhân danh người nghèo khó, kẻ bần hàn, giống như bà Êlisabéth và ông Giacaria, Đức Maria và thánh Giuse, bà tiên tri Anna và cụ ông Simêon, các mục đồng.  Tất cả họ đã biết cách chờ đợi sự xuất hiện của Chúa.
• The insistence of Luke in saying that Mary and Joseph fulfilled everything which the Law prescribes, recalls what Paul writes in the Letter to the Galatians: “When the completion of the time came, God sent his Son, born of a woman, born a subject of the Law, to redeem the subjects of the Law so that we could receive adoption as sons” (Gal 4, 4-5).   Sự khẳng định của tác giả Luca trong việc nói rằng Đức Maria và thánh Giuse đã làm tròn mọi việc như Lề Luật đặt ra, gợi nhớ lại những gì thánh Phaolô đã viết trong các Thư gửi tín hữu Galát:  “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5).
• The story of the old Simeon teaches that hope, even if not immediately, will be realized some day. It is not frustrated, it is realized. But the way does not always correspond to what we imagine. Simeon was waiting for the glorious Messiah of Israel. Going to the Temple in the midst of many couples who were taking their child, he sees the realization of his hope and of the hope of the People: “My eyes have seen the salvation, which you have made ready in the sight of the nations, a light of revelation for the Gentiles and glory for your People Israel”.   Câu chuyện của cụ già Simêon dạy rằng hy vọng, thậm chí nếu không phải là ngay lập tức, sẽ được thực hiện vào một ngày nào đó.  Đó không phải là việc nản lòng, nó được thực hiện.  Nhưng phương cách không luôn tương ứng với những gì chúng ta tưởng tượng.  Cụ già Simêon đã chờ đợi Đấng Mêssia của dân Israel.  Đi đến Đền Thờ ở giữa nhiều cặp vợ chồng đã đem con mình đến đó, ông trông thấy việc thực hiện niềm hy vọng của mình và niềm hy vọng của Dân Chúa Israel:  “Chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel Dân Chúa”.  
• In the text of today’s Gospel, we have the preferred themes of Luke, that is, a strong insistence on the action of the Holy Spirit, on prayer and on the prayer environment, a continuous attention to the action and participation of the women and a constant concern for the poor and of the message for the poor. –  Trong văn bản của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có những chủ đề ưa thích của thánh Luca, đó là, lời khẳng định mạnh mẽ về hoạt động của Chúa Thánh Thần, về lời cầu nguyện và về môi trường cầu nguyện, một sự chú ý liên tục đến hành động và sự tham gia của các người phụ nữ và mối quan tâm thường trực đến những người nghèo khó và sứ điệp cho những người nghèo khó.  
b) Simeon and Anna: these are figures full of symbolical value. Their role is one of recognition, that comes from both the enlightenment and action of the Spirit and a life lived in expectation and faith. Simeon especially is defined as prodekòmenos, that is, one entirely absorbed in waiting, and one who goes forward to welcome. He, too, appears to be obedient to the law, the law of the Spirit, who leads him towards the child in the temple. The canticle he proclaims manifests his pro-existentia, he has lived in order to come to this moment and now he withdraws so that others may see the light and the salvation to come for Israel and the pagans. Anna completes the picture, by her very age (symbolical value: 84 equals 7×12, the twelve tribes of Israel; or 84 – 7 = 77, double perfection), but above all by her way of living (fasting and praying) and by her proclamation to all who “looked forward”. She is led by the Spirit of prophecy, docile and purified in her heart. Besides, she belongs to the smallest of the tribes, that of Aser, a sign that the small and fragile are those more disposed to recognise Jesus, the Saviour. Both of these old persons – who look like an original couple – are symbols of the best of Judaism, of faithful and meek Jerusalem, that awaits and rejoices and that from now on allows the new light to shine. b)  Ông Simêon và bà Anna:  Đây là những nhân vật với đầy đủ giá trị biểu tượng.  Vai trò của họ là một sự công nhận, xuất phát từ việc soi sáng lẫn hành động của Chúa Thánh Thần và một đời sống trong sự mong chờ và đức tin.  Đặc biệt ông Simêon được mô tả như là một người hoàn toàn đắm chìm trong sự chờ đợi (prodekòmenos), và là kẻ bước tới để chào đón.  Ông cũng xuất hiện để tuân giữ lề luật, lề luật của Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn ông về phía con trẻ trong đền thờ.  Bài ca vịnh ông công bố biểu lộ khuynh hướng sống cho người khác của ông, ông đã sống để chờ đến thời điểm này và giờ đây ông rút lui để cho những người khác có thể nhìn thấy ánh sáng và ơn cứu độ đến cho dân tộc Israel cũng như dân ngoại.  Bà Anna hoàn thành bức tranh, bằng vào số tuổi của bà (con số tượng trưng:  84 = 7 x 12; mười hai chi tộc Israel; hoặc 84 – 7 = 77, con số toàn thiện kép), nhưng hơn hết cả là bằng lối sống của bà (ăn chay và cầu nguyện) và bằng lời công bố của bà cho tất cả những ai “nhìn về tương lai”.  Bà được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần về việc nói tiên tri, phụng thờ Chúa và sự trinh khiết trong lòng của bà.  Ngoài ra, bà thuộc về một chi tộc nhỏ bé nhất, chi họ Asê, một dấu chỉ cho thấy rằng những người nhỏ bé và mong manh là những người có khuynh hướng nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế hơn.  Cả hai ông bà lão này – trông có vẻ như là một cặp đôi nguyên thủy – là những biểu tượng đẹp nhất của Do Thái giáo, của thành Giêrusalem trung thành và hiền lành, đang chờ đợi và vui mừng và rằng từ bây giờ sẽ để cho nguồn ánh sáng mới lan tỏa.
c) A sword will pierce: generally these words are interpreted as meaning that Mary will suffer, a drama made visible of the Our Lady of Sorrows. Rather, we need to see the Mother as a symbol of Israel. Simeon feels the drama of his people who will be deeply torn by the living and sharp word of the redeemer (cf Lk 12:51-53). Mary represents the path: she must trust, but will go through times of pain and darkness, struggles and painful silences. The story of the suffering Messiah will be painful for all, even for the Mother. One does not follow the new light of the whole world without paying the cost, without being provoked to make risky choices, without being always born again from on high and in newness. But these images of the “sword that pierces”, of the child who will “trip” and shake hearts from their lethargy, are not to be separated from the meaningful action of the two old persons: the one, Simeon, takes the child in his arms to show that faith is a meeting and an embrace, not an idea of theorem; the other, Anna, takes on the role of proclaiming and enkindles a bright light in the hearts of all who “looked forward” to him. c)  Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu:  thông thường những chữ này được hiểu như có nghĩa là Đức Maria sẽ chịu đau khổ, một cảnh được thấy rõ ràng là hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi.  Thay vào đó, chúng ta cần xem Đức Mẹ như là một biểu tượng của dân tộc Israel.  Ông Simêon linh cảm được cảnh tượng dân tộc của ông sẽ bị chia rẽ sâu xa bởi lời sắc bén và hằng sống của Đấng Cứu Thế (xem Lc 12:51-53).  Đức Maria đại diện cho đường đi:  bà phải tín thác, nhưng sẽ phải trải qua những thời gian đau thương và đen tối, sự im lặng đớn đau và những thử thách.  Câu chuyện của Đấng Mêssia đau khổ sẽ làm cho mọi người đau đớn, ngay cả đối với Đức Mẹ.  Người ta không thể đi theo ánh sáng mới của toàn thế giới mà không phải trả giá, mà không phải bị khích động để chọn các quyết định đầy rủi ro, mà không phải được tái sinh từ trời và trong sự mới mẻ.  Nhưng hình ảnh của “lưỡi gươm đâm thấu” này, về một hài nhi sẽ “làm vấp ngã” và giao động những trái tim khỏi sự thờ ơ của họ, thì không thể bị tách rời khỏi hành động đầy ý nghĩa của hai người già lão:  một người là ông Simêon, kẻ đã bế Chúa Hài Đồng trên tay mình để cho thấy rằng đức tin là một sự gặp gỡ và vòng tay ôm, chứ không phải là một lý thuyết suông; còn người kia, cụ bà Anna, đảm nhận vai trò công bố và nhen nhóm lại ánh sáng rực rỡ trong lòng tất cả những ai “đã nhìn về phía” Người.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
71. Obedience and the mystery of the cross

“Substitute acts of penance,” Don Bosco tells us, “with acts of obedience.”

Sometimes obedience will clash with our own selfish attitudes and desires for independence, or may really test our love.  This is the moment to look to Christ, who was obedient even unto death:  “Father, if this chalice cannot pass from me unless I drink it, thy will be done.”

The mystery of his death and resurrection teaches us how fruitful it is for us to obey:  the grain of wheat which dies in the obscurity of the earth bears much fruit.

71. Vâng phục và mầu nhiệm thập giá

Don Bosco nói với chúng ta : “Thay vì hãm mình phạt xác, các con hãy thực hành vâng phục”.

Có những lần vâng phục đi ngược lại với xu hướng độc lập và ích kỷ hoặc có thể đòi hỏi nơi ta những bằng chứng tình yêu cam go. Đây chính là lúc phải nhìn lên Đức Kitô, Đấng đã vâng phục cho đến chết  : “Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà con phải uống, thì xin theo ý Cha”.

Mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa dạy ta: vâng phục thật phong phú cho ta biết chừng nào: hạt lúa có chết đi trong lòng đất tăm tối mới sinh nhiều bông hạt.

or :

18.  Work and temperance  

“Work and temperance will make the Congregation flourish”, whereas the seeking of an easy and comfortable life will instead bring about its death.

The Salesian gives himself to his mission with tireless energy, taking care to do everything with simplicity and moderation.  He knows that by his work he is participating in the creative action of God and cooperating with Christ in building the Kingdom.

Temperance gives him the strength to con­trol his heart, to master himself and remain even-tempered.

He does not look for unusual penances but accepts the dally demands and renunciations of the apostolic life.  He is ready to suffer cold and heat, hunger and thirst, weariness and disdain whenever God’s glory and the salvation of souls require it.

hoặc :

18. Làm việc và tiết độ

“Làm việc và tiết độ sẽ làm cho Dòng phát triển”; trái lại việc tìm tiện nghi và an nhàn sẽ đưa Dòng tới chỗ diệt vong .

Người Salêdiêng hiến mình cho sứ mệnh với sự cần lao không mỏi mệt, lo hoàn thiện mọi việc cách đơn sơ và mực thước. Qua công việc, họ biết là mình tham gia vào hành động sáng tạo của Thiên Chúa và cộng tác với Đức Kitô trong việc xây dựng Nước Chúa.

Sự tiết độ kiện cường nơi người Salêdiêng việc canh giữ cõi lòng và làm chủ bản thân, đồng thời giúp họ sống thanh thản.

Họ không tìm những việc đền tội phi thường, nhưng chấp nhận những đòi hỏi hằng ngày và những sự từ bỏ của đời tông đồ: sẵn sàng chịu nóng lạnh, đói khát, mệt nhọc và khinh khi, mỗi khi vinh danh Chúa và phần rỗi các linh hồn đòi hỏi .

5) Personal questions 5)  Câu hỏi cá nhân
• Would you be capable to perceive in a poor child the light to enlighten the nations? *  Bạn có khả năng nhận thức được trong một em bé nghèo hèn mà lại có ánh sáng để chiếu soi cho muôn dân không?
• Would you be capable of waiting your whole life for the realization of your hope? *  Bạn có khả năng chờ đợi cả cuộc đời mình để thực hiện niềm hy vọng của bạn không?
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
Yahweh, what quantities of good things you have in store for those who fear you, and bestow on those who make you their refuge, for all humanity to see. Safe in your presence you hide them, far from human plotting. (Ps 31,19-20) Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu, Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài, Và thi thố trước mặt phàm nhân Cho ai tìm đến Ngài nương náu. Bên Thánh Nhan, Ngài giấu họ kỹ càng Khỏi người đời mưu hại. Ngài che chở họ trong lều thánh, xa tầm lưỡi thị phi. (Tv 31:20-21)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

  1. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.
Từ khoá:

Bài viết liên quan Lễ về Đức Mẹ

LỄ MẸ MÂN CÔI
LỄ MẸ MÂN CÔI
MẸ SẦU BI
LECTIO DIVINA LỄ MẸ SẦU BI
Lễ Mẹ Lên Trời