LECTIO DIVINA LỄ TRUYỀN TIN

LECTIO DIVINA LỄ TRUYỀN TIN

NGÀY 25-03-2020 : Lc 1, 26-38

God’s covenant with humanity
Mary’s yes and our yes (Luke 1,26-38)
Giao ước của Thiên Chúa với nhân loại Lời xin vâng của Đức Maria và của chúng ta (Lc 1:26-38)
1. OPENING PRAYER 1.  Lời nguyện mở đầu
Merciful Father, in this holy time of prayer and of listening to your Word, send also to me your holy angel that I may receive the proclamation of salvation and that, after opening my heart, I may offer my yes to Love. Let, I beg you, the Holy Spirit overshadow me as an overwhelming power. As from now, Father, I do not wish to express anything other than my “Yes!” and to say to you: “Behold, I am here for you. Do unto me whatever pleases you”. Amen. Lạy Cha nhân từ, trong thời gian thánh này của cầu nguyện và của lắng nghe Lời Chúa, xin Cha cũng sai thánh thiên thần của Cha đến để cho con cũng có thể nhận lãnh được lời công bố về ơn cứu độ và, sau khi đã mở lòng trí con, thì con cũng có thể nói tiếng xin vâng với Thiên Chúa Tình Yêu.  Con cầu xin cùng Cha, xin hãy để cho Chúa Thánh Thần rợp bóng trên con như một quyền năng tràn ngập.  Từ giờ trở đi, lạy Cha, con không muốn nói một điều khác hơn là lời “Xin Vâng!” và xin thưa cùng Cha:  “Này con đây.  Xin Chúa hãy làm trên con bất cứ điều gì Chúa muốn”.  Amen.
2. READING 2.  Bài đọc 
a) The context of the passage: a)   Bối cảnh đoạn Tin Mừng:
The story of the annunciation takes us from the temple, a holy place par excellence, to the house, to the intimacy of a personal meeting of God with his creature; it leads us into ourselves, into the deepest part of our being and our story, where God alone can reach and touch us. The announcement of the birth of John the Baptist had opened the sterile womb of Elisabeth, thus overcoming the absolute powerlessness of humankind and transforming it into the ability to collaborate with God. On the other hand, the announcement of the birth of Jesus, knocks on the door of a fertile womb of the one who is “full of grace” and awaits a reply: it is God who waits for our yes so as to work everything in us. Câu chuyện truyền tin đưa chúng ta từ đền thờ, nơi thiêng liêng tuyệt hảo, đến căn nhà, đến sự thân mật của cuộc gặp gỡ riêng tư của Thiên Chúa với tạo vật của mình; câu chuyện dẫn đưa chúng ta vào trong chính mình, vào trong nơi sâu thẳm nhất của con người chúng ta, nơi mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể tiếp cận và chạm đến.  Lời loan báo về việc ra đời của thai nhi Gioan Tẩy Giả đã mở ra cung lòng son sẻ của bà Êlisabéth; do đó, khắc phục được sự bất lực tuyệt đối của loài người và biến đổi nó thành khả năng cộng tác với Thiên Chúa.  Mặt khác, lời công bố việc giáng sinh của Chúa Giêsu, gõ cửa một cung lòng có khả năng sinh sản của người “đầy ân sủng” và chờ đợi câu trả lời:  chính Thiên Chúa, Đấng đang chờ đợi câu xin vâng của chúng ta để Người có thể làm tất cả mọi việc trong chúng ta.
b) An aid to the reading of this passage: b)  Phần trợ giúp cho việc đọc đoạn Tin Mừng này:
vv. 26-27: The first two verses place us at the time and sacred space of the event on which we are meditating and which we relive: we are in the sixth month from the conception of John the Baptist and in Nazareth, a city in Galilee, the land of the marginalized and unclean. Here God has come down to speak with a virgin, to speak to our hearts. Các câu 26-27:  Hai câu đầu tiên đặt chúng ta vào trong thời gian và không gian thiêng liêng của sự kiện mà chúng ta có thể suy gẫm và hồi tưởng lại:  chúng ta đang ở tháng thứ sáu sau khi Gioan Tẩy Giả được thụ thai và tại làng Nagiarét, một thành trong xứ Galilêa, đất của những kẻ bị khinh khi và ô uế.  Tại đây Thiên Chúa đã xuống để nói chuyện với một trinh nữ, để nói chuyện với trái tim của chúng ta.
The persons involved in this unsettling event are presented to us: Gabriel, the messenger of God, a young woman called Mary and her spouse Joseph of the royal house of David. We too are made welcome into this company and are called to enter into the mystery. Những nhân vật dính dáng trong sự kiện sôi nổi này được trình diện với chúng ta: thiên thần Gabriel, sứ giả của Thiên Chúa, một thiếu nữ tên là Maria và người phối ngẫu của cô là ông Giuse thuộc dòng dõi hoàng gia của vua Đavít.  Chúng ta cũng được chào đón vào trong nhóm người này và được kêu gọi tiến vào mầu nhiệm.
vv. 28-29: These are the very first words of the dialogue between God and his creature. Just a few words, a mere breath, but all-powerful words that disturb the heart, that question deeply the meaning of human life, plans and expectations. The angel announces joy, grace and the presence of God; Mary is disturbed and asks herself how can any of this be happening to her. Where can such a joy come from? How can such a great grace, that can change her very being, be hers? Các câu 28-29:   Đây là những lời đầu tiên của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và tạo vật của Ngài.  Chỉ cần một vài lời, một hơi thở đơn thuần, nhưng những lời mạnh mẽ thì làm con tim bối rối, câu hỏi sâu sắc về ý nghĩa của đời sống con người, các dự án và kỳ vọng.  Thiên thần loan báo niềm vui mừng, ân sủng và sự hiện diện của Thiên Chúa; Đức Maria bối rối và tự hỏi việc này làm thế nào có thể xảy ra được?  Làm thế nào mà một hồng ân cao cả như thế, có thể thay đổi con người bà, thuộc về bà được?
vv. 30-33: These are the central verses of the excerpt: it is the explosion of the announcement, the manifestation of the gift of God, of his omnipotence in the life of human beings. Gabriel, the strong, speaks of Jesus: the eternal king, the Saviour, the God made child, the humble all-powerful. He speaks of Mary, of her womb, of her life that she was chosen to be the gateway to welcoming God in this world and into the lives of all people. Even at this stage of the events, God begins to draw near, to knock. He stands, attentive, by the door of the heart of Mary; and even now by our house, our hearts… Các câu 30-33:  Đây là những câu trọng tâm của đoạn Tin Mừng:  đó là sự vỡ òa của lời loan báo, biểu lộ của ân sủng Thiên Chúa, Đấng toàn năng trong đời sống loài người.  Thiên thần Gabriel, thiên sứ, nói về Đức Giêsu:  vị vua cai trị đời đời, Đấng Cứu Thế, Con Đấng Tối Cao, Đấng Toàn Năng khiêm nhường.  Ngài nói về Đức Maria, về con trong lòng của bà, về cuộc đời của bà rằng bà đã được chọn để làm cửa ngõ chào đón Thiên Chúa vào trong thế gian này và vào trong đời sống của tất cả mọi người.  Ngay cả ở giai đoạn này của sự kiện, Thiên Chúa bắt đầu đến gần, gõ cửa.  Người đứng đó, chăm chú, ngay tại cánh cửa của trái tim Đức Maria; và ngay cả bây giờ tại cửa nhà chúng ta, tại trái tim chúng ta… 
v. 34: Mary, faced by God’s proposal, allows herself to stand naked, she allows herself to be read to her very depths. She speaks of herself, her heart, her wishes. She knows that for God the impossible is possible, she does not doubt or harden her heart and mind, she does not count the cost; she only wants to be fully available, open, and allows herself to be reached by that humanly impossible touch, but one already written, already realised in God. In a gesture of utter poverty, she places before God her virginity, her not knowing man. This is a complete and absolute surrender of self, full of faith and trust. It is her preliminary yes. Câu 34:  Đức Maria, phải trực diện với đề nghị của Thiên Chúa, để cho mình trở nên hiển nhiên không giấu diếm, bà để cho mình được đọc đến nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn mình.  Bà nói về chính mình, về tâm hồn mình, về những ước muốn của mình.  Bà biết rằng đối với Thiên Chúa việc không thể là có thể, bà không nghi ngờ hay cứng lòng trí của mình, bà không kể đến cái giá phải trả; bà chỉ muốn hoàn toàn sẵn sàng, mở lòng, và để cho bản thân mình được đạt tới bằng những cách mà loài người nghĩ không thể được, mà là điều đã được viết, đã được thực hiện trong Thiên Chúa.  Trong một cử chỉ đơn sơ, Đức Maria đặt sự trinh tiết của mình trước mặt Thiên Chúa, bà không biết đến người nam.  Đây là một sự đầu hàng hoàn toàn và tuyệt đối của bản thân, tràn đầy đức tin và sự tín thác.  Đó là lời nói xin vâng đầu tiên của bà.
vv. 35-37: God, most humble, gives an answer; the all-powerful bends over the fragility of this woman, who represents each one of us. The dialogue continues, the covenant grows and is strengthened. God reveals the how, he speaks of the Holy Spirit, of the fruitful overshadowing, which does no violence, does not break, but preserves intact. He speaks of the human experience of Elisabeth, he reveals another impossible thing made possible; almost like a guarantee or security. And then comes the last word when one must make a choice: to say yes or no, believe or doubt, dissolve or harden oneself, to open the door or close it. “Nothing is impossible for God”. Các câu 35-37:  Thiên Chúa, trong sự khiêm tốn nhất, đưa ra câu trả lời, Đấng Toàn Năng nhìn xuống sự mong manh của người phụ nữ này, bà cũng đại diện cho mỗi người chúng ta.  Cuộc đối thoại tiếp tục, mối giao ước tăng tiến và được củng cố.  Thiên Chúa mặc khải phương cách, Người nói về Chúa Thánh Thần, về việc rợp bóng thụ thai, không có bạo lực, không phá vỡ, nhưng bảo tồn sự nguyên trinh.  Thiên thần lại nói về trường hợp của bà Êlisabéth, ngài mặc khải cho biết một trường hợp không thể đã trở thành có thể; hầu như là một sự bảo đảm hoặc chắc chắn.  Và rồi đến những lời cuối cùng khi người ta phải làm một sự lựa chọn:  để nhận lời hoặc từ chối, tin tưởng hay nghi ngờ, thuận thảo hay cứng lòng, mở cửa hoặc đóng lại.  “Không có điều gì là bất khả thi đối với Thiên Chúa”.
v. 38: The last verse seems to contain an infinity. Mary says her “Here I am”, she opens herself wide to God and then the meeting, the union takes place forever. God enters into the human and the human becomes the place of God: these are the most sublime Nuptials possible on earth. And yet, the Gospel ends on a sad and hard note: Mary stays alone, the angel leaves. What remains, however, is the yes pronounced to God and God’s presence; what remains is real Life. Câu 38:  Câu cuối cùng dường như chứa đựng một sự vô định.  Đức Maria trả lời “Này tôi đây”, bà mở rộng tâm hồn mình cho Thiên Chúa và rồi đến cuộc gặp gỡ, sự nối kết xảy ra tồn tại muôn đời.  Thiên Chúa đã nhập thể loài người và loài người trở thành nơi trú ngụ của Thiên Chúa:  đây là một Hôn Ước tuyệt vời nhất có thể có được trên trần gian.  Chưa hết, Tin Mừng kết thúc bằng một chi tiết buồn và mạnh mẽ:  Đức Maria ở lại một mình, thiên thần cáo biệt.  Tuy nhiên, những gì còn lại là một lời xin vâng đã được nói với Thiên Chúa và sự hiện diện của Thiên Chúa; những gì còn lại là Sự Sống đích thực.   
c) The Text: c)  Tin Mừng:
In the sixth month the angel Gabriel was sent by God to a town in Galilee called Nazareth, to a virgin betrothed to a man named Joseph, of the House of David; and the virgin’s name was Mary. He went in and said to her, ‘Rejoice, you who enjoy God’s favour! The Lord is with you.’ She was deeply disturbed by these words and asked herself what this greeting could mean, but the angel said to her, ‘Mary, do not be afraid; you have won God’s favour. Look! You are to conceive in your womb and bear a son, and you must name him Jesus. He will be great and will be called Son of the Most High. The Lord God will give him the throne of his ancestor David; he will rule over the House of Jacob for ever and his reign will have no end.’ Mary said to the angel, ‘But how can this come about, since I have no knowledge of man?’ The angel answered, ‘The Holy Spirit will come upon you, and the power of the Most High will cover you with its shadow. And so the child will be holy and will be called Son of God. And I tell you this too: your cousin Elizabeth also, in her old age, has conceived a son, and she whom people called barren is now in her sixth month, for nothing is impossible to God.’ Mary said, ‘You see before you the Lord’s servant, let it happen to me as you have said.’ And the angel left her. 26 Vào tháng thứ sáu, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét, 27 đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, trinh nữ ấy tên là Maria. 28 Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng:  “Kính chào trinh nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ!” 29 Nghe lời đó, trinh nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.  30 Thiên thần liền thưa:  “Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa.  31 Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu.  32 Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao.  Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. 33Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp và triều đại Người sẽ vô tận.” 34 Nhưng Maria thưa với thiên thần:  “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?” 35 Thiên thần thưa:  “Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ.  Vì thế Đấng trinh nữ sinh ra sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Và này, Isave, chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; 37 vì không có việc gì mà Chúa không làm được.” 38 Maria liền thưa:  “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.”  Và thiên thần cáo biệt trinh nữ.
3. A MOMENT OF PRAYERFUL SILENCE 3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện
I have read and listened to the words of the Gospel. Now I stand in silence … God is present, at the door, and asks for shelter, yes, even from me and from my poor life … Tôi đã đọc và lắng nghe lời Tin Mừng.  Giờ đây tôi đứng trong yên lặng … Thiên Chúa đang hiện diện, đang gọi cửa, và xin một nơi trú ngụ, vâng, thậm chí từ tôi và từ cuộc sống nghèo nàn của tôi…
4. A FEW QUESTIONS 4.  Một vài câu hỏi gợi ý
a) God’s announcement, his angel, enters my life, stands before me and speaks to me. Am I prepared to welcome him, to give him space, to listen to him attentively? a)    Lời loan báo của Thiên Chúa, thiên thần của Chúa, đi vào cuộc sống của tôi, đứng trước mặt tôi và nói chuyện với tôi.  Tôi có đã chuẩn bị sẵn sàng để chào đón người chưa, tôi có dành chỗ cho thiên thần, để chăm chú lắng nghe người nói chưa?
b) Suddenly I receive an upsetting announcement; God speaks to me of joy, grace and presence. All the things that I have been seeking for so long, always. Who can make me really happy? Am I willing to trust in his happiness and his presence? b)    Đột nhiên, tôi nhận được một lời loan báo khác thường; Thiên Chúa nói với tôi về niềm hân hoan, ân sủng và sự hiện diện.  Tất cả những điều mà tôi đã luôn bỏ công tìm kiếm bấy lâu.  Ai sẽ là người có thể cho tôi hạnh phúc thực sự?  Tôi có sẵn sàng tín thác vào niềm hạnh phúc và sự hiện diện của người đó không?
c) Not much is needed, just a movement of the heart, of my being; He is already aware of this. He is already overwhelming me with light and love. He says to me: “You have found favour in my sight”. So, I please God? He finds me pleasant, loveable? Yes, that is how it really is. Why is it that I would not believe it before? Why have I not listened to him? c)    Không cần nhiều, chỉ cần một chuyển động của trái tim, của con người tôi; Người đã nhận ra điều này.  Người đã đổ tràn ngập tôi với ánh sáng và tình yêu.  Người nói với tôi: “Con đã được ơn nghĩa trước mặt Ta”.  Vì thế, tôi có đã làm Chúa vui lòng chưa?  Người có thấy tôi dễ mến, đáng yêu không?  Vâng, điều đó chính là như thế.  Tại sao trước đây tôi đã không chịu tin điều đó?  Tại sao tôi vẫn chưa lắng nghe lời Người?
d) The Lord Jesus wants to come into this world also through me; he wants to reach my brothers and sisters through the paths of my life, of my being. Would I lead him astray? Would I refuse him, keep him at a distance? Would I wipe him out of my story, my life? d)    Chúa Giêsu muốn đi vào thế giới này qua con người tôi, Người muốn đến với anh chị em tôi qua lối của đời sống tôi, của con người tôi.  Tôi có sẽ dẫn Người đi lạc đường không?  Tôi có sẽ từ chối Người, lảng tránh Người không?  Tôi có sẽ xóa bỏ Người khỏi câu chuyện của tôi, của đời tôi không?
5. A KEY TO THE READING 5.  Chìa khóa dẫn đến bài đọc
Some important and strong words that resonate in this passage of the Gospel. Một vài chữ quan trọng và mạnh mẽ âm vang trong đoạn Tin Mừng này
● Rejoice! Hãy vui mừng lên!
This is a really strange greeting from God to his creature; it seems hard to explain and perhaps even senseless. And yet, for centuries it resonated in the pages of Sacred Scripture and thus also on the lips of the Hebrew people. Rejoice, be glad, exult! Many times the prophets had repeated this gentle breath of God and had shouted the silent beat of his heart for his people, his remnant. I read this in Joel: “Land, do not be afraid; be glad, rejoice, for Yahweh has done great things… (2: 21-23); in Zephaniah: “Shout for joy, daughter of Zion, Israel, shout aloud! Rejoice, exult with all your heart, daughter of Jerusalem! Yahweh has repealed your sentence” (3: 14); in Zechariah: “Sing, rejoice, daughter of Zion, for now I am coming to live among you – Yahweh declares!” (2, 14). I read and listen to it, today, I say it also in my heart, in my life; a joy is announced to me, a new happiness, never before experienced. I rediscover the great things that the Lord has done for me; I experience the freedom that comes from his pardon: I am no longer sentenced, but graced forever; I live the experience of the presence of the Lord next to me, in me. Yes, He has come to dwell in our midst; He is once more setting up his tent in the land of my heart, of my existence. Lord, as the Psalm says, you rejoice in your creatures (Ps 104: 31); and I too rejoice in you, thanks to you, my joy is in you (Ps 104: 34). Đây là lời chào mừng thực sự kỳ lạ từ Thiên Chúa nói với tạo vật của Người; dường như có vẻ khó khăn để giải thích và có lẽ thậm chí là vô nghĩa.  Thế nhưng, qua hằng nhiều thế kỷ, nó gây được tiếng vang trong các trang Kinh Thánh và do đó cũng trên môi của người Do Thái.  Hãy vui mừng lên, hãy hân hoan!  Nhiều lần, các tiên tri đã lặp đi lặp lại hơi thở nhẹ nhàng này của Thiên Chúa và đã hô to nhịp đập thầm lặng của trái tim Chúa vì dân của Người, phần còn lại của Người.  Tôi đã đọc điều này trong sách tiên tri Giôen:  “Hỡi đất đai, đừng sợ, hãy hoan hỷ vui mừng, vì ĐỨC CHÚA đã làm những việc lớn lao… (Ge 2:21-23); trong sách tiên tri Xôphônia:  “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!  Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi.  Án lệnh phạt ngươi, ĐỨC CHÚA đã rút lại” (Xp 3:14); trong sách tiên tri Dacaria:  “Hỡi con gái Xion, hãy vui sướng reo hò, vì này Ta đang đến để ở lại giữa ngươi – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA! (Dcr 2:14).  Hôm nay, tôi đọc và lắng nghe lời ấy, tôi nói rằng nó vẫn còn trong trái tim tôi, trong đời tôi; một niềm vui mừng được công bố cho tôi, một niềm hạnh phúc mới, chưa từng có.  Tôi tái khám phá ra những điều tuyệt vời mà Chúa đã làm cho tôi; tôi trải nghiệm sự tự do đến từ việc tha thứ của Người:  tôi không còn bị án phạt nữa, mà là được ân phúc muôn đời; tôi sống với kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa bên cạnh tôi, trong tôi.  Vâng, Người đã đến ngự giữa chúng ta; một lần nữa Ngài dựng lều của mình trong miền đất của trái tim tôi, trong sự tồn tại của tôi.  Lạy Chúa, như Thánh Vịnh đã nói, Chúa vui mừng trong tạo vật của Chúa (Tv 104:31); và con cũng vui mừng trong Chúa, niềm vui của con là chính Chúa (Tv 104:34).
● The Lord is with you Thiên Chúa ở cùng trinh nữ!
These simple and enlightened words pronounced by the angel to Mary, liberate an all-powerful force; I realise that these words alone would suffice to save my life, to lift me up again from whatever fall or humiliation, to bring me back when I go astray. The fact that He, my Lord, is with me, keeps me alive, gives me courage and trust to go on being. If I am, it is because He is with me. Who knows but that the experience of Isaac told in Scripture might not be valid for me, the most beautiful thing imaginable that could happen to a person who believes in and loves God, when one day Abimelech came to Isaac with his men to tell him: “It became clear to us that Yahweh was with you” (Gen 26: 28) and then asked to become friends and form an alliance. Would that the same thing might be said of me; would that I could show that the Lord is truly with me, in my life, in my desires, in my affections, in my choices and actions; would that others might meet Him through me. Perhaps for this, it is necessary for me to absorb more the presence of God, for me to eat and drink of Him. Những lời đơn giản và soi sáng này được loan báo bởi thiên thần cho Đức Maria, thoát ra một quyền lực toàn năng; tôi nhận ra rằng chỉ những lời này thôi thì cũng đủ để cứu rỗi cuộc đời tôi, để nâng tôi dậy lần nữa từ bất cứ một vấp ngã hoặc sự tủi hổ nào, để đem tôi trở lại khi tôi đi lạc lối.  Sự thật chính Người, Thiên Chúa của tôi, ở cùng tôi, giữ cho tôi được sống còn, mang lại cho tôi sự can đảm và tin tưởng để tiếp tục sống.  Nếu tôi được như thế, đó là bởi vì Chúa đang ở cùng với tôi.  Ai mà biết được rằng kinh nghiệm của ông Isaác được kể trong Kinh Thánh có thể là không có giá trị đối với tôi, điều tốt đẹp nhất có thể tưởng tượng được mà có thể xảy ra cho người tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa, khi mà vào một ngày, vua Avimeléc cùng với các người của nhà vua đã đến nói với ông Isaác rằng:  “Chúng tôi đã thấy rõ là ĐỨC CHÚA ở với ông” (St 26:28) và sau đó xin được làm bạn với ông và hình thành một liên minh.  Có thể nào điều tương tự sẽ nói về tôi; tôi sẽ có thể cho thấy rằng Chúa thực sự đang ở cùng tôi, trong đời sống tôi, trong các ước muốn của tôi, trong tình cảm của tôi, trong các sự chọn lựa và hành động của tôi; có thể nào những người khác sẽ có thể gặp Người qua tôi không.  Có lẽ vì điều này, thật là cần thiết cho tôi hấp thụ sự hiện diện của Thiên Chúa nhiều hơn nữa, cho tôi rước của ăn và của uống của Chúa.
Let me go to the school of Scripture, to read and re-read some passages where the voice of the Lord tells me again and again of this truth and, while He speaks, to be transformed, ever more in-dwelt. “Remain for the present in that country; I shall be with you and bless you” (Gen 26: 3). “To Joshua son of Nun, Yahweh gave this order: Be strong and stand firm, for you are to be the one to bring the Israelites into the country which I have promised them on oath, and I myself shall be with you” (Dt 31: 23). “They will fight against you but will not overcome you, because I am with you to save you and rescue you” (Jer 15: 20). “The angel of Yahweh appeared to him and said: Yahweh is with you, valiant warrior!” (Judges 6: 12). “Yahweh appeared to him the same night and said: I am the God of your father Abraham. Do not be afraid, for I am with you. I shall bless you and multiply your offspring for my servant Abraham’s sake” (Gen 26: 24). “Be sure, I am with you; I shall keep you safe wherever you go, and bring you back to this country, for I shall never desert you until I have done what I have promised you” (Gen 28: 15). “Do not be afraid, for I am with you; do not be alarmed, for I am your God. I give you strength, truly I help you, truly I hold you firm with my saving right hand” (Is 41: 10) Hãy để tôi đi học trường Kinh Thánh, để đọc đi đọc lại một vài đoạn nơi mà tiếng của Chúa nói đi nói lại với tôi về sự thật này và, trong khi Ngài nói, để tôi được chuyển hóa, về tâm hồn hơn bao giờ hết.  “Hãy trú ngụ trong đất này; Ta sẽ ở với ngươi và sẽ chúc phúc cho ngươi” (St 26:3).  “ĐỨC CHÚA truyền lệnh cho ông Giosuê, con ông Nun, Người phán:  ‘Mạnh bạo lên, can đảm lên!  Chính ngươi sẽ đưa con cái Israel vào đất mà Ta đã thề hứa với chúng; và Ta sẽ ở với ngươi’” (Đnl 31:23).  “Ta sẽ làm cho ngươi nên thành đồng kiên cố đối với dân này.  Chúng có chống lại ngươi cũng chẳng làm chi được, vì Ta ở với ngươi để cứu sống và giải thoát ngươi” (Gr 15:20).  “Thần sứ ĐỨC CHÚA hiện ra với ông và nói:  ‘Chào chiến sĩ can trường!  ĐỨC CHÚA ở với ông’” (Tl 6:12).  “Đêm ấy, ĐỨC CHÚA hiện ra với ông và phán:  ‘Ta là Thiên Chúa của Ápraham, cha ngươi.  Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi.  Vì Ápraham, tôi tớ của Ta, Ta sẽ chúc phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi ra nhiều’” (St 26:24).  “Này Ta ở với ngươi; ngươi đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ gìn ngươi, và Ta sẽ đưa ngươi về đất này, và Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta hoàn thành điều Ta đã phán với ngươi” (St 28:15).  “Đừng sợ hãi:  có Ta ở với ngươi.  Đừng nhớn nhác:  Ta là Thiên Chúa của ngươi.  Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta” (Is 41:10).
● Do not be afraid Đừng sợ!
The Bible is packed with this pronouncement full of kindness; like a river of mercy, these words are found throughout the sacred books, from Genesis to the Apocalypse. It is the Father who repeats to his children not to be afraid, because He is with them, he will not abandon them, he will not forget them, He will not leave them in the hands of their enemies. It is like a declaration of love from God to humanity, to each one of us; it is a pledge of fidelity that is relayed from hand to hand, from heart to heart, and finally comes down to us. Abraham heard these words and after him his son Isaac, then the patriarchs, Moses, Joshua, David, Solomon and, with them, Jeremiah and all the prophets. No one is excluded from this embrace of salvation that the Father offers his children, even those furthest from him, most rebellious against him. Mary knows how to listen to these words and knows how to believe full of faith, in an attitude of absolute surrender; She listens and believes, welcomes and lives for us too. She is the strong and courageous woman who opens herself to the coming of God, letting go of all fears, incredulity and a closed spirit. She repeats these same words of God in our lives and invites us to believe like her. Kinh Thánh thì có chứa đầy những lời tuyên bố đầy trung hậu này; như dòng sông của lòng thương xót, những lời này được tìm thấy khắp trong các quyển sách Thánh, từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền.  Chính Đức Chúa Cha là Đấng lặp đi lặp lại với con cái của Ngài là đừng sợ, vì Người luôn ở cùng họ, Người sẽ không bỏ rơi họ, Người sẽ không quên họ, Người sẽ không để họ rơi vào tay quân thù.  Nó giống như là một tuyên ngôn tình yêu từ Thiên Chúa cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta; đó là lời cam kết trung thành được truyền từ đời này sang đời kia, từ tâm hồn này đến tâm hồn kia, và cuối cùng thì xuống đến chúng ta.  Ông Ápraham đã nghe những lời này và sau đến con trai ông là Isaác, rồi sau đó đến các tổ phụ, Môisen, Giôsua, vua Đavít, vua Salômôn, và cùng với họ, tiên tri Giêrêmia và tất cả các tiên tri.  Không ai bị loại trừ khỏi vòng tay cứu độ này mà Chúa Cha ban cho con cái mình, ngay cả những kẻ rời xa khỏi Ngài, những kẻ chống báng lại Ngài nhất.  Đức Maria biết cách để lắng nghe những lời này và biết cách tin vào các lời ấy với tràn đầy đức tin, trong một thái độ quy phục tuyệt đối.  Bà lắng nghe và tin tưởng, bà cũng chào đón và sống cho chúng ta.  Bà là người phụ nữ mạnh mẽ và can trường, người đã mở lòng mình cho Thiên Chúa ngự vào, buông bỏ tất cả những sợ hãi, nghi ngờ và tinh thần khép kín.  Đức Maria lặp lại cùng những lời này của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng như bà đã tin.
● You enjoy God’s favour Vui hưởng ân sủng Thiên Chúa
“Lord, if I enjoy favour in your sight…”. This is the prayer that time and time again comes out of the lips and hearts of those who seek refuge in the Lord; the Scriptures tell us about such people, we come across them in our crossroads when we know not where to go, when we feel hounded by solitude or by temptation, when we experience abandonment, betrayals, heavy defeats of our own existence. When we no longer have anyone and we fail to find even ourselves, then we too, like them, find ourselves praying by repeating these same words: “Lord, if I enjoy favour in your sight…”. Who knows how often we have repeated these words, even alone and in silence. But today, here, in this simple passage of the Gospel, we are forestalled, we are welcomed in anticipation; we need no longer plead, because we have already found everything that we always sought and much more. We have received freely, we are overwhelmed and now we can overflow. “Lạy Chúa, xin Chúa đoái thương con …”  Đây là lời cầu nguyện mà luôn được thốt lên từ miệng lưỡi và trái tim của những ai tìm kiếm nơi ẩn náu trong Thiên Chúa; Kinh Thánh nói với chúng ta về những người như thế, chúng ta gặp họ trong ngã tư đường của mình khi mà chúng ta không biết phải đi về đâu, khi chúng ta cảm thấy bị săn đuổi bởi sự cô tịch hoặc bởi cám dỗ, khi chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi, phản bội, thất bại nặng nề về sự tồn tại của chính chúng ta.  Khi mà chúng ta không còn ai bên mình và chúng ta cũng không tìm thấy chính mình, thì khi ấy, chúng ta cũng giống như họ, thấy mình cầu nguyện bằng cách lặp lại những lời tương tự:  “Lạy Chúa, xin Chúa đoái thương con…”.  Ai mà biết được chúng ta đã lặp lại những lời này bao nhiều lần, ngay cả khi một mình và trong thinh lặng.  Nhưng hôm nay, tại đây, trong đoạn Tin Mừng đơn giản này, chúng ta được biết trước, chúng ta được đón chào với sự mong đợi; chúng ta không còn cần phải nài xin, vì chúng ta đã tìm được tất cả mọi thứ mà chúng ta hằng tìm kiếm và còn nhiều hơn thế.  Chúng ta đã nhận được một cách nhưng không, chúng ta bị choáng ngợp và bây giờ thì có thể tràn đầy.  
● Nothing is impossible to God Không có việc gì mà Chúa không làm được
I have nearly come to the end of this strong journey of grace and liberation; I now come across a word that shakes me in my depths. My faith is being sifted; the Lord is testing me, scrutinising me, testing my heart. What the angel says here in front of Mary, had already been proclaimed many times in the Old Testament; now the time has come for the fulfilment, now all the impossible things come to pass. God becomes man; the Lord becomes friend, brother; the distant is very close. And I, even I, small and poor as I am, am given to share in the immensity of this gift, this grace; I am told that in my life too the impossible becomes possible. I only have to believe, to give my consent. But this means that I have to allow myself to be shattered by the power of God; to surrender to Him, who will transform me, free me and renew me. Not even this is impossible. Yes, I can be reborn today, here and now, by the grace of the voice that has spoken to me, that has reached me even to the very depths of my heart. I seek and transcribe the passages of Scripture that repeat this truth. And as I write them, as I re-read them and say them slowly, devouring every word, and what they say takes place in me… Genesis 18: 14; Job 42: 2; Jeremiah 32: 17; Jeremiah 32: 27; Zechariah 8: 6; Matthew 19: 26; Luke 18: 27. Tôi đã đi gần đến cuối cuộc hành trình mạnh mẽ này của ân sủng và sự giải thoát; giờ đây, tôi bắt gặp một lời làm rúng động tâm tư mình trong sâu thẳm của tôi.  Đức tin của tôi đang bị sàng lọc; Chúa đang thử thách tôi, đang nghiệm xét tôi, đang kiểm định lòng tôi.  Những gì mà thiên thần nói với Đức Maria ở đây, đã được công bố nhiều lần trong Cựu Ước; bây giờ là thời điểm cho việc thực hiện, giờ đây tất cả những việc không thể xảy ra sẽ xảy ra.  Thiên Chúa trở thành người phàm; Chúa trở thành bạn hữu, anh em; khoảng cách được rút lại rất gần.  Và tôi, ngay cả tôi, nhỏ bé và nghèo hèn như tôi, cũng đang được thông phần trong sự bao la của món quà này, của ân sủng này; tôi được cho biết rằng trong đời tôi, điều không thể cũng trở thành có thể.  Tôi chỉ cần phải tin tưởng, chỉ cần phải có sự đồng ý của tôi.  Nhưng điều này có nghĩa là tôi phải để cho bản thân mình bị vỡ vụn bởi quyền năng của Thiên Chúa; để quy phục Chúa, Đấng sẽ biến đổi tôi, giải thoát tôi và canh tân tôi.  Ngay cả đây là điều không thể.  Vâng, tôi có thể được tái sinh hôm nay, tại đây và ngay bây giờ, bởi ân sủng của tiếng nói đã nói với tôi, tiếng nói đã chạm đến tôi, thậm chí đến tận đáy lòng tôi.  Tôi tìm kiếm và ghi lại các đoạn Kinh Thánh lặp lại sự thật này.  Và như tôi viết xuống những đoạn ấy, như tôi lặp lại và đọc một cách chậm rãi, nuốt từng chữ, và những gì các đoạn Kinh Thánh này nói đang xảy ra trong tôi…  Sách Sáng Thế Ký 18:14; Gióp 42:2; Giêrêmia 32:17; Giêrêmia 32:27; Giacaria 8:6; Mátthêu 19:26; Luca 18:27.
● Here I am Này con đây
Now I cannot escape, nor can I avoid the conclusion. I knew from the beginning that here, in this word, so small and yet so full, so final, that God was waiting for me. The appointment of love, of the covenant between Him and me had been fixed precisely on this word, just a gentle voice, just a kiss. I am unsettled by the richness of the presence I feel in this “Here I am!”; I need not make much effort to recall the number of times that God first pronounced and repeated these words to me. He is the ‘Here I am’ made man, absolutely faithful, unforgettable. I only need to tune into him, only find his footprints in the sand of my poverty, of my desert; I only need to welcome his infinite love that never ceases to seek me, to stay close to me, to walk with me wherever I go. The ‘Here I am’ has already been pronounced and realised, it is already real. How many before me and how many today have experienced this! I am not alone. I still remain silent, listening before I reply… Giờ đây, tôi không thể nào thoái thác, cũng không thể nào tránh né được đoạn kết cục.  Tôi biết từ đầu rằng tại đây, trong lời này, rất nhỏ nhoi nhưng lại rất đầy đủ, rất dứt khoát, rằng Thiên Chúa đang chờ đợi tôi.  Cuộc hẹn của tình yêu, của sự giao ước giữa Chúa và tôi đã được sắp đặt một cách chính xác từ lời này, chỉ là một giọng nói nhẹ nhàng, chỉ là một nụ hôn.  Tôi lưỡng lự bởi sự phong phú của sự hiện diện tôi cảm thấy trong câu “Này con đây!” tôi không cần phải nỗ lực cố gắng nhiều để gợi nhớ lại số lần mà Thiên Chúa đã lên tiếng trước và lặp đi lặp lại những lời này với tôi.  Người là Đấng ‘Này Con đây’ được làm người phàm, tuyệt đối trung thành, không thể quên được.  Tôi chỉ cần hướng về Người, chỉ cần tìm thấy dấu chân của Người trên cát của sự nghèo nàn của tôi, trong sa mạc của tôi; tôi chỉ cần chào đón tình yêu vô biên của Người, Đấng mà không bao giờ ngừng đi tìm kiếm tôi, để ở gần bên tôi, để cùng bước với tôi đến bất cứ nơi nào tôi đi.  Câu nói “Này con đây” đã được nói lên và được nhận ra, nó đã là sự thật.  Có bao nhiêu người trước tôi và có bao nhiêu người ngày nay đã có kinh nghiệm này!  Tôi không lẻ loi một mình.  Tôi vẫn giữ im lặng, lắng nghe trước khi tôi đáp lời…
“Here I am!” (Is 65: 1) God repeats; Mary replies, “Here I am, I am the servant of the Lord”; and Christ says, “I come to do your will” (Ps 39: 8)… “Này con đây!”  (Is 65:1) Thiên Chúa lặp lại;  Đức Maria thưa lại:  “Này tôi là tôi tớ Chúa”; và Đức Kitô nói rằng:  “Này con xin đến làm theo thánh ý Chúa” (Tv 39:8)…
6. Salesian Constitutions 6. Hiến Luật Salêdiêng
64. Gospel significance of our obedience Our Saviour assured us that he came on earth to do not his own will but that of his Father in heaven. By professing obedience we offer our will to God and by carrying out the mission entrust­ed to us we relive in the Church and in the Congregation Christ’s own obedience. Docile to the Spirit and attentive to the signs he gives us in the events of each day, we take the Gospel as our supreme rule of life, the Constitutions as a sure path to follow, and the superiors and the community as day by day interpreters of God’s will. 64. Ý nghĩa Phúc âm của sự vâng phục chúng ta Chúa Cứu Thế khẳng định với chúng ta rằng Ngài đến trần gian không phải để làm theo ý riêng mình, nhưng để thực thi thánh ý Cha Ngài trên trời. Với việc tuyên khấn vâng phục, chúng ta hiến dâng ý chí chúng ta cho Thiên Chúa và lặp lại đời sống vâng phục của Đức Kitô trong Hội Thánh cũng như trong Tu Hội, qua việc chu toàn sứ mệnh được giao phó cho chúng ta. Dễ dạy đối với Chúa Thánh Thần và chú tâm đến những dấu chỉ Ngài ban cho ta qua các biến cố, chúng ta lấy Tin Mừng làm luật tối thượng  của đời sống, Hiến Luật làm đường đi vững chắc, các Bề trên và cộng thể làm những người hằng ngày giải thích thánh ý Thiên Chúa.
7. A TIME OF PRAYER: PSALM 138 7.  Giây phút cầu nguyện:  Thánh Vịnh 139
Ref. Father, into your hands I commend my life. Đáp ca:  Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha
Yahweh, you examine me and know me,
you know when I sit, when I rise, 
you understand my thoughts from afar.
You watch when I walk or lie down, 
you know every detail of my conduct.
A word is not yet on my tongue before you, 
Yahweh, know all about it.
You fence me in, behind and in front, 
you have laid your hand upon me.
Such amazing knowledge is beyond me, 
a height to which I cannot attain.
Where shall I go to escape your spirit? 
Where shall I flee from your presence?
If I scale the heavens you are there, 
if I lie flat in Sheol, there you are. You created my inmost self, 
knit me together in my mother’s womb.
For so many marvels I thank you; 
a wonder am I, and all your works are wonders. 
You knew me through and through,
How hard for me to grasp your thoughts, 
how many, God, there are!
If I count them, they are more than the grains of sand; 
if I come to an end, I am still with you.
God, examine me and know my heart, 
test me and know my concerns.
Make sure that I am not on my way to ruin, 
and guide me on the road of eternity.
Lạy CHÚA, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
thì lạy CHÚA, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.
Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?
Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,
nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.

Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!
Hồn con đây biết rõ mười mươi.
Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,
khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.

Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao,
tính chung lại, ôi nhiều vô kể!
Đếm sao nổi, vì nhiều hơn cát;
dù có đếm xong, con vẫn ở với Ngài.

Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,
xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.
Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác
thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời.
7. CLOSING PRAYER 7.  Lời nguyện kết
Father, you came down to me, you have come to me, you have touched my heart, you have spoken to me and promised joy, presence and salvation. By the grace of the Holy Spirit, who overshadows me, I, together with Mary, have been able to say to you yes, the ‘Here I am’ of my life for you. Now there remains only the force of your promise, of your truth: “You are to conceive and bear Jesus”. Lord, here is the womb of my life, of my being, of all that I am and have, open before you. I place all things in you, in your heart. Enter, come, come down again, I beg you, and make me fruitful, make me one who gives birth to Christ in this world. May the overflowing love I receive from you find its fullness and truth in touching the brothers and sisters that you place beside me. May our meeting, Father, be open, a gift to all. May Jesus be the Saviour. Amen. Lạy Chúa, Chúa đã từ trời xuống với con, Chúa đã đến với con, Chúa đã chạm vào trái tim con, Chúa đã nói với con và hứa hẹn niềm hân hoan, sự hiện diện và ơn cứu rỗi.  Nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần, Đấng rợp bóng trên con, cùng với Đức Maria, con đã có thể nói lời xin vâng với Chúa, câu nói ‘Này con đây’ của đời con dâng lên Chúa.  Giờ đây, chỉ còn lại quyền năng của lời hứa của Chúa, của sự thật:  “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu”.  Lạy Chúa, đây là cung lòng cuộc sống con, của con người con, của tất cả những gì con có, được trải ra trước Chúa.  Con đặt mọi sự trong Chúa, trong trái tim Chúa.  Xin Chúa hãy bước vào, hãy đến, hãy ngự xuống lần nữa, con cầu xin Chúa, và xin hãy làm cho con sinh hoa kết trái, xin hãy khiến cho con thành người hạ sinh Đức Kitô vào trong thế gian này.  Nguyện xin tình yêu tràn đầy con nhận lãnh được từ Chúa tìm thấy sự viên mãn và chân lý trong việc chạm vào các anh chị em mà Chúa đặt để bên cạnh con.  Lạy Chúa, nguyện xin cho cuộc gặp gỡ của chúng ta được mở ra, như một món quà cho tất cả mọi người.  Con nguyện xin cùng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.  Amen.

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

GB. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa

Chúa nhật lễ Hiện xuống
LỄ HIỆN XUỐNG
CON CÓ YÊU MẾN THẦY?
GIỜ TÔN VINH
HƯỚNG MẮT VỀ TRỜI
ANH EM PHẢI CANH THỨC