LECTIO DIVINA THÁNH GIUSE

LECTIO DIVINA THÁNH GIUSE

NGÀY 19-03-2020 : Mt 1, 16.18-21.24a

“Joseph did what the angel of the Lord had told him to do” “Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền”.
1. LECTIO 1.  Bài Đọc
A) OPENING PRAYER: a)  Lời nguyện mở đầu:  
Spirit who moves over the water, calm in us all discordance, the agitated waves, the noise of the words, the whirlwind of vanity, and make the Word which recreates, arise in silence. Spirit who in a sigh you Whisper to our spirit the Name of the Father, come and gather together all our desires, make them grow in a beam of light which will be a response to your light, the Word of the new Day. Spirit of God, the sap of love of the immense tree on which you graft us, so that all our brothers will seem to us as a gift in the great Body in which  the Word of communion matures. (Frère Pierre-Yves of Taizé) Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng di chuyển trên mặt nước, Xin hãy làm yên tĩnh trong chúng con tất cả mọi bất hòa, Những con sóng xáo trộn, những tiếng ồn ào của lời nói, Cơn lốc của hư không, Và xin hãy làm cho Lời Chúa tái tạo, Dấy lên trong thinh lặng. Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng mà trong tiếng gió Chúa thì thầm với thần khí chúng con về Danh của Chúa Cha Xin hãy đến và gom lại tất cả những ước muốn của chúng con, Xin hãy làm cho chúng lớn lên trong tia sáng Đó sẽ là một phản chiếu lại ánh sáng của Chúa, Lời Chúa của Ngày mới. Lạy Thánh Thần Chúa, nhựa sống của tình yêu Của cây đại thụ mà nơi ấy Chúa gầy dựng chúng con, Để tất cả anh em của chúng con sẽ dường như là một ân sủng đối với chúng con Trong một Thân Thể cao cả mà trong đó Ngôi Lời của hiệp thông trưởng thành. (Sư huynh Pierre-Yves thành Taizé)
B) READING OF THE GOSPEL: MATTHEW 1, 16-24 b)  Bài Phúc Âm theo thánh Mátthêu: 1:16-24
Jacob fathered Joseph the husband of Mary; of her was born Jesus who is called Christ. The sum of generations is therefore: fourteen from Abraham to David; fourteen from David to the Babylonian deportation; and fourteen from the Babylonian deportation to Christ. This is how Jesus Christ came to be born. His mother Mary was betrothed to Joseph; but before they came to live together she was found to be with child through the Holy Spirit. Her husband Joseph, being an upright man and wanting to spare her disgrace, decided to divorce her informally. He had made up his mind to do this when suddenly the angel of the Lord appeared to him in a dream and said, ‘Joseph son of David, do not be afraid to take Mary home as your wife, because she has conceived what is in her by the Holy Spirit. She will give birth to a son and you must name him Jesus, because he is the one who is to save his people from their sins.’ Now all this took place to fulfil what the Lord had spoken through the prophet: Look! the virgin is with child and will give birth to a son whom they will call Immanuel, a name which means ‘God-is-with-us’. When Joseph woke up he did what the angel of the Lord had told him to do: he took his wife to his home; he had not had intercourse with her when she gave birth to a son; and he named him Jesus. Giacóp sinh Giuse là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Đức Kitô.  Như thế, tính chung lại thì:  từ tổ phụ Ápraham đến vua Đavít, là mười bốn đời; từ vua Đavít đến thời lưu đày ở Babylon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Babylon đến Đức Kitô, cũng là mười bốn đời.  Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giuse con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:  Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Êmmanuel, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.  Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền và đón vợ về nhà.  Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu.
C) A MOMENT OF SILENCE: c)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:
so that the Word of God may enter into our hearts and enlighten our lives. Để Lời Chúa có thể thấm nhập vào lòng và soi sáng đời sống chúng ta.
2. MEDITATIO 2.  Suy Gẫm
A) A KEY TO THE READING: a)  Chìa khóa dẫn đến bài đọc: 
The passage of today’s Gospel is taken from the first chapter of the Gospel of Matthew which forms part of the section concerning the conception, birth and infancy of Jesus. The center of all this account is the Person of Jesus around which are all the events and the persons mentioned. One must keep in mind that the Gospel reveals a Theology of the history of Jesus, and so getting close to the Word of God we should get the message which is hidden under the veils of the account without losing ourselves, as Paul so wisely advises us “in foolish speculations”, avoiding “those genealogies and the quibbles and disputes about the Law, they are useless and futile” (Tt 3,9). Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích từ chương thứ nhất của sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu là một phần của đoạn nói về việc thụ thai, việc giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu.  Trọng tâm trên hết của câu chuyện này là chung quanh Con Người của Chúa Giêsu mà tất cả những sự kiện và những nhân vật được đề cập đến.  Ta nên nhớ rằng Tin Mừng mặc khải Thần Học về cuộc đời của Chúa Giêsu, và vì thế đến gần với Lời Chúa, chúng ta phải nhận thấy sứ điệp được ẩn dấu dưới màn che của câu chuyện mà không làm mất chính mình, như thánh Phaolô đã khuyên chúng ta một cách khôn khéo “trong những tranh luận điên rồ”, tránh xa “những chuyện gia phả, những vụ cãi cọ, xung đột về Lề Luật: những cái đó vô ích và rỗng tuếch” (Tt 3:9).
In fact, this text is connected to the genealogy of Jesus, which Matthew arranges with the intention of stressing the dynastic succession of Jesus, the Saviour of his people (Mt 1, 21). To Jesus are conferred all the rights inherited from the lineage of David, of “Joseph, son of David” (Mt 1:20; Lk 2:4-5) his legal father. For the Biblical and Hebrew world legal paternity was sufficient to confer all the rights of the lineage in question (cf.: the law of the levirate and of adoption (Dt 25:5ff). That is why from the beginning of the genealog, Jesus is designed as “Christ the Son of David” (Mt 1:1) that is, the anointed one of the Lord Son of David, with whom all the promises of God to David his servant, are fulfilled (2 Sam 7:1-16; 2 Cr 7:18; 2 Cr 21:7; Ps 89:30). This is why Matthew adds to the account of the genealogy and of the conception of Jesus the prophecy of Isaiah: “All this took place to fulfill what the Lord had spoken through the prophet.: The young woman is with child and will give birth to a son whom she will call Immanuel, which means God with us” (Mt 1, 21-23 and Is 7:14). Thật ra, đoạn Tin Mừng này được nối kết với gia phả của Chúa Giêsu, mà thánh Mátthêu sắp xếp với mục đích nhấn mạnh đến việc thừa kế vương tộc của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ cho dân Người (Mt 1:21).  Chúa Giêsu được trao toàn bộ quyền thừa hưởng từ dòng dõi vua Đavít, con của “Giuse, con cháu của Đavít” (Mt 1:20; Lc 2:4-5), là cha hợp pháp của Chúa.  Bởi vì đối với thế giới người Do Thái và Kinh Thánh, mối liên hệ phụ tử hợp pháp là điều kiện đủ trong vấn đề thừa hưởng mọi quyền lợi trực hệ (xem: lề luật về thế huynh hôn phối và về việc nhận làm con (Đnl 25:5 và các câu tiếp theo)).  Đó là lý do tại sao sách Tin Mừng bắt đầu bằng câu chuyện gia phả, Chúa Giêsu được gọi là “Đấng Kitô con cháu vua Đavít” (Mt 1:1); đó là Đấng được xức dầu của Thiên Chúa, con cháu vua Đavít, Đấng mà tất cả những lời hứa của Thiên Chúa với vua Đavít, tôi tớ Người, được hoàn thành (2Sm 7:1-16; 2Sb 7:18; 2Sb 21:7; Tv 89:30).  Đây là lý do mà Mátthêu thêm vào câu chuyện gia phả và việc thụ thai của Chúa Giêsu, theo lời của ngôn sứ Isaia:  “Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:  Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Êmmanuel, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1:21-23 và Is 7:14)
Let us stop to say something, on the spiritual reality of adoption, we can refer to the fact that the elected people possess “the glory, the covenants, the legislation, the cult, the promises”, because “they are Israelites and possess the adoption of sons” (Rm 9:4). But we also, the new people of God in Christ receive the adoption of sons because “when the completion of the time came God sent his Son, born of a woman, born a subject of the Law, to redeem the subjects of the Law, so that we could receive adoption as sons” (Gal 4:4-5). This is the salvation which Jesus has brought to us. Christ “will save his people from their sins” (Mt 1:21) because he is the “God with us!” (Mt 1: 23) who makes adopted sons of God. Chúng ta hãy tạm dừng để nói điều này, về tinh thần thực tế của việc nhận làm con nuôi, chúng ta có thể nhắc đến sự thật mà dân riêng được sở hữu “vinh quang, các giao ước, lề luật, nền phụng tự, các lời hứa”, bởi vì “họ là người Israel và đã được Thiên Chúa nhận làm con” (Rm 9:4).  Nhưng chúng ta cũng thế, là dân mới của Thiên Chúa trong Đức Kitô được nhận làm con bởi vì “khi tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5).  Đây là ơn cứu rỗi mà Chúa Giêsu đã mang đến cho chúng ta.  Chúa Kitô “sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21) bởi vì Người là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta!” (Mt 1:23) Đấng ban ơn làm nghĩa tử của Thiên Chúa.  
Jesus is born from “Mary who was betrothed to Joseph” (Mt 1:18a)) who “was found to be with child through the Holy Spirit” (Mt 1: 18b). Matthew does not give the account of the annunciation as Luke does (Lk 1, 26-38), but structures the account from the point of view of the experience of Joseph the just man. The Bible reveals to us that God loves the just and many times chooses them for an important mission, protects them and does not join them to the impious (Gen 18:23ff). In the Old Testament we find many persons who are considered just. We think of Noah “a good man, an upright man among his contemporaries” (Gen 6:9). Or also Johoash who “did what Yahweh regards as right” (2 K 12:3). Chúa Giêsu được sinh ra bởi “bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse” (Mt 1:18a) bà “đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18b). Tác giả Mátthêu không kể lại câu chuyện truyền tin như thánh Luca đã kể (Lc 1:26-38), nhưng xây dựng câu chuyện từ quan điểm về việc cư xử của thánh Giuse như một người công chính.  Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa yêu thương người công chính và nhiều lần chọn họ trong sứ vụ quan trọng, bảo vệ họ, và không xét xử họ chung với những kẻ tội lỗi (St 18:23 và các câu tiếp theo).  Trong Cựu Ước, chúng ta thấy nhiều người được coi là công chính.  Chúng ta nghĩ đến ông Nôe “một người công chính, hoàn hảo giữa những người cùng thời” (St 6:9).  Hoặc nghĩ đến vua Giôát là người “đã làm những điều ngay thẳng trước mắt Đức Giavê” (2V 12:3).
A constant idea in the Bible is the “dream” as a privileged place where God makes his projects and designs known, and sometimes reveals the future. The dreams of Jacob and Betel are well known (Gen 28: 10ff) and Joseph his son, as also those of the cup-bearer and the chief baker imprisoned in Egypt with him (Gen 37:5ff; Gen 40: 5ff) and the dreams of Pharaoh which revealed the future years of plenty and of famine and want (Gen 41:1ff). Một ý niệm thường xuyên trong Kinh Thánh rằng “giấc chiêm bao” được coi như là một nơi chốn đặc biệt để Thiên Chúa làm cho các chương trình và dự án của Chúa được biết đến, và đôi khi mặc khải chuyện tương lai.  Những giấc chiêm bao của ông Giacóp và Bêtel thì nổi tiếng (St 28:10 và các câu tiếp theo); của ông Giuse, con trai ông, cũng như các quan chước tửu và quan ngự thiện bị giam cầm tại Ai Cập với ông Giuse (St 37:5; 40:5 và các câu tiếp theo) và những giấc chiêm bao của Pharaô trong đó mặc khải những năm sung túc và những năm đói kém cũng như kiệt quệ trong tương lai (St 41:1 và các câu tiếp theo).
“An Angel of the Lord“ appeared to Joseph (Mt 1:20) to reveal to him God’s design. In the Gospels of the infancy frequently the Angel of the Lord is mentioned as the heavenly messenger (Mt 1:20.24; 2:13.19; Lk 1:11; 2:9) and also on other occasions the angel appears to calm down, to reveal the project of God, to heal, to liberate from slavery (cf. Mt 28:2; Jn 5:4; Acts 5:19; 8:26; 12:7.23). Many are the references to the Angel of the Lord also in the Old Testament where originally the angel represented the Lord himself who guided and protected his people being close to them (cf. Gen 16:7-16; 22:12; 24:7; Ex 3:3; 23:20; Tb 5:4). “Một Thiên Thần Chúa” hiện đến cùng ông Giuse (Mt 1:20) để mặc khải cho ông về chương trình của Thiên Chúa.  Trong các sách Phúc Âm nói về thời thơ ấu, Thiên Thần Chúa thường xuyên được nhắc đến như là thiên sứ (Mt 1:20,24; 2:13,19; Lc 1:11; 2:9) và cũng vào những dịp khác, thiên thần hiện ra để trấn an, để mặc khải chương trình của Thiên Chúa, để chữa lành, để giải thoát khỏi ách nô lệ (xem Mt 28:2; Ga 5:4; Cv 5:19; 8:26; 12:7,23).  Nhiều trường hợp thiên sứ của Chúa cũng được nhắc đến trong Cựu Ước nơi mà khởi đầu thiên thần, đại diện cho Chúa, Đấng dẫn đường và gìn giữ dân Chúa và gần gũi với họ (xem St 16:7-16; 22:12; 24:7; Xh 3:3; 23:20; Tb 5:4)  
B) QUESTIONS TO ORIENTATE THE MEDITATION AND MAKE IT RELEVANT: b)  Những câu hỏi để hướng dẫn cho phần suy gẫm và ứng dụng:
● What has struck you in this passage? Why? ● Điều gì trong đoạn Tin Mừng này đánh động bạn nhất?  Tại sao?
● In the key to the reading, have we given enough consideration to some terms (adoption, angel, dream, just)? What sentiments or thoughts did these arise in your heart? What relevance can they have for your journey of spiritual maturation? ● Trong chìa khóa dẫn đến bài đọc, chúng ta đã có suy xét đủ về một số từ ngữ chưa (nhận làm con, thiên thần, giấc chiêm bao, công chính)?  Các từ ngữ này đã nảy sinh những cảm xúc gì hay ý nghĩ gì trong lòng bạn?   Chúng có thể có sự thích hợp nào cho cuộc hành trình trưởng thành tâm linh của bạn không?
● Which do you think is the central message in this Gospel passage? ● Bạn nghĩ trọng tâm sứ điệp của đoạn Tin Mừng này là gì?
3. Salesian Constitutions 3. Hiến Luật Salêdiêng
9.  Patrons and Protectors of our Society As members of the pilgrim Church, we are conscious of our fellowship with our brothers in the heavenly kingdom and feel the need of their help. Don Bosco entrusted our Society in a special way to Mary, whom he made its principal patroness, as well as to St Joseph and to St Francis de Sales, the zealous pastor and doctor of charity. We hold in veneration as special protectors St Dominic Savio, a sign of the wonders that grace can achieve in adolescents, and the other glorified members of our family. 9. Các Đấng Bổn mạng và Bảo trợ của Tu Hội Là phần tử của Hội Thánh lữ hành, chúng ta ý thức mình hiệp thông với các anh em trong Nước Trời và cần được các ngài trợ giúp. Don Bosco đặc biệt phó thác Tu Hội chúng ta không những cho Đức Maria mà ngài đã đặt làm bổn mạng chính, nhưng còn cho thánh Giuse và Thánh Phanxicô Salê, vị mục tử nhiệt thành và tiến sĩ đức ái. Chúng ta còn tôn kính như các Đấng Bảo trợ riêng: thánh Đaminh Saviô là dấu chỉ những việc kỳ diệu ơn thánh đã hoàn thành nơi các thanh thiếu niên, và các phần tử khác đã được tôn vinh thuộc Gia đình chúng ta.
4. ORATIO 4.  Cầu Nguyện
A) PSALM 92 a)  Thánh Vịnh 92
It is good to give thanks to Yahweh, 
to make music for your name, Most High,
to proclaim your faithful love at daybreak, 
and your constancy all through the night,
on the lyre, the ten-stringed lyre, 
to the murmur of the harp.
You have brought me joy, Yahweh, 
by your deeds, at the work of your hands I cry out,
‘How great are your works, Yahweh, 
immensely deep your thoughts!’ Stupid people cannot realise this, 
fools do not grasp it.
The wicked may sprout like weeds, 
and every evil-doer flourish, 
but only to be eternally destroyed;
whereas you are supreme for ever, Yahweh. Look how your enemies perish, 
how all evil-doers are scattered!
You give me the strength of the wild ox, 
you anoint me with fresh oil;
I caught sight of the ambush against me, 
overheard the plans of the wicked. The upright will flourish like the palm tree, 
will grow like a cedar of Lebanon.
Planted in the house of Yahweh, 
they will flourish in the courts of our God.
In old age they will still bear fruit, 
will remain fresh and green,
to proclaim Yahweh’s integrity; 
my rock, in whom no fault can be found.
Thú vị thay được tạ ơn CHÚA,
được mừng hát danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao,
được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm,
và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya,
hoà điệu sắt cầm gieo trầm bổng,
nhè nhẹ vấn vương khúc tỳ bà.
Lạy CHÚA, sự nghiệp Ngài khiến con mừng rỡ,
thấy việc tay Ngài làm, con phải reo lên:
Lạy CHÚA, công trình Ngài xiết bao vĩ đại,
tư tưởng Ngài thâm thúy lắm thay!
Người khờ dại nào đâu có biết,
kẻ ngu si chẳng hiểu điều này:
Bọn bất nhân dầu sởn sơ như cỏ,
phường gian ác có đua nở khoe tươi,
cũng là để bị diệt trừ vĩnh viễn Còn CHÚA, Ngài cao cả đến muôn đời.
Kìa những kẻ thù Ngài, lạy CHÚA,
kìa những kẻ thù Ngài tiêu vong,
bọn gian ác đều rã tan hết thảy.
Ngài cho con ngẩng đầu hãnh diện,
tựa như trâu ngạo nghễ giương sừng,
thân con, Ngài xức dầu thơm mát.
Mắt con nghênh những kẻ địch thù,
tai nghe biết lũ hại con mạt vận.
Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt,
lớn mạnh như hương bá Li-băng
được trồng nơi nhà CHÚA,
mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta;
già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả,
tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn,
để loan truyền rằng: CHÚA thực là ngay thẳng,
là núi đá cho tôi ẩn náu,
nơi Người chẳng có chút bất công.
B) MOMENTS FOR A PRAYERFUL SILENCE b)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện
4. CONTEMPLATIO 4.  Chiêm Niệm
The Christian contemplation of God’s dream, of the project which God cherishes for the history of humanity does not produce alienation but keeps the consciences vigilant and active and stimulates us to face with courage and altruism the responsibilities which life gives us. Việc chiêm niệm của người Kitô hữu về giấc mơ của Thiên Chúa, dự án mà Thiên Chúa ấp ủ đối với lịch sử nhân loại không nảy sinh sự tha hóa mà giữ cho lương tâm luôn cảnh tỉnh, năng động và thúc đẩy chúng ta phải đối mặt với sự can đảm và lòng vị tha, trách nhiệm mà đời sống ban cho chúng ta.  

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

GB. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa

Chúa nhật lễ Hiện xuống
LỄ HIỆN XUỐNG
CON CÓ YÊU MẾN THẦY?
GIỜ TÔN VINH
HƯỚNG MẮT VỀ TRỜI
ANH EM PHẢI CANH THỨC