LECTIO DIVINA THỨ 6 TUẦN 15 THƯỜNG NIÊN

LECTIO DIVINA THỨ 6 TUẦN 15 THƯỜNG NIÊN

NGÀY 17-07-2020 : Mt 12, 1-8

“For the Son of man is master of the Sabbath” “Con Người cũng là chủ ngày sabbat”
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
God our Father, your light of truth guides us to the way of Christ. May all who follow him reject what is contrary to the gospel. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen. Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con. Ánh sáng chân lý của Chúa hướng dẫn chúng con đến con đường của Chúa Kitô. Xin Chúa ban ơn giúp tất cả những người đi theo Người loại bỏ những gì ngược lại với Tin Mừng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa và là Chúa chúng con. Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, với Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa, đến muôn đời. Amen.
2) Gospel Reading – Matthew 12,1-8 2) Tin Mừng : Mt 12, 1-8
At that time Jesus went through the cornfields one Sabbath day. His disciples were hungry and began to pick ears of corn and eat them.

The Pharisees noticed it and said to him, ‘Look, your disciples are doing something that is forbidden on the Sabbath.’

But he said to them, ‘Have you not read what David did when he and his followers were hungry – how he went into the house of God and they ate the loaves of the offering although neither he nor his followers were permitted to eat them, but only the priests? Or again, have you not read in the Law that on the Sabbath day the Temple priests break the Sabbath without committing any fault? Now here, I tell you, is something greater than the Temple. And if you had understood the meaning of the words: Mercy is what pleases me, not sacrifice, you would not have condemned the blameless. For the Son of man is master of the Sabbath.’

Khi ấy, vào ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi ngang cánh đồng lúa. Các môn đệ của Người đói, liền bứt bông lúa mà ăn.

Thấy vậy, các người biệt phái thưa với Người rằng: “Kìa, các môn đệ của Ngài làm điều không được phép làm trong ngày Sabbat”.

Người nói với các ông rằng: “Các ông không đọc thấy Đavít và những người đi với ông đã làm gì khi đói lả sao? Các ông cũng không đọc thấy Đavít vào đền thờ Chúa ăn bánh trưng hiến, bánh mà ông và các kẻ theo ông không được phép ăn, chỉ trừ các tư tế được ăn mà thôi sao? Hay các ông không đọc thấy trong luật rằng: Ngày Sabbat, các tư tế trong đền thờ vi phạm ngày Sabbat mà không mắc tội đó sao? Tôi bảo cho các ông biết, đây có Đấng còn trọng hơn đền thờ nữa. Vì nếu các ông biết được điều này là, ‘Ta muốn lòng nhân từ, chứ không muốn hy lễ’, chắc các ông không bao giờ lên án những người vô tội, vì chưng Con Người cũng là chủ ngày Sabbat”. Đó là lời Chúa.

3) Reflection 3) Suy ngắm
• In today’s Gospel we see that there are many conflicts between Jesus and the religious authority of that time. They are conflicts regarding the religious practices of that time: fasting, purity, observance of the Sabbath, etc. In normal terms, they would be conflicts regarding for example, matrimony between divorced persons, friendship with prostitutes, the acceptance of homosexuals, communion without being married by the Church, not to go to Mass on Sunday, not to fast on Good Friday. The conflicts were many: at home, in the school, in work, in the community, in the Church, in personal life, in society. Conflicts regarding growth, relationship, age, mentality. So many of them! To live life without conflicts is impossible! Conflict is part of life and springs up since the time of birth. We are born with birth pangs. Conflicts are not accidents along the way, but form part of the journey, of the process of conversion. What strikes us is the way in which Jesus faces the conflicts. In the discussion with his enemies, he was not trying to show them that he was right, but wished to make the experience which he, Jesus, had of God, Father and Mother, prevail. The image of God which others had was that of a severe Judge who only threatened and condemned. Jesus tries to have mercy on the blind observance of the norms and of the law, prevail, since it had nothing to do with the objective of the Law which is the practice of Love. • Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có nhiều xung khắc giữa Chúa Giêsu và giáo quyền thời đó. Đó là những xung khắc liên quan đến các thực hành tôn giáo thời bấy giờ: việc ăn chay, sự trong sạch, việc tuâng giữ ngày Sabbat, v.v. Theo ngôn ngữ ngày nay, đó là, chẳng hạn, hôn nhân giữa những người ly dị, kết bạn với gái mại dâm, chấp nhận đồng tính luyến ái, không có sự hiệp thông cho những người không lập gia đình trong Giáo Hội, không đi lễ Chủ nhật, không ăn chay ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Có nhiều xung khắc : ở nhà, ở trường, trong công việc, trong cộng đoàn, trong Giáo Hội, trong đời sống cá nhân, trong xã hội. Xung khắc liên quan đến sự tăng trưởng, quan hệ, tuổi tác, tâm lý. Có rất nhiều sự xung khắc! Sống đời sống mà không có xung khắc là điều không hề có! Xung khắc là một phần của đời sống và nảy sinh ngay từ lúc sinh ra. Chúng ta được sinh ra với nhiều xung khắc. Xung khắc không phải là tai nạn trên đường đi, nhưng là thành phần của cuộc hành trình, của quá trình hoán cải. Điều đánh động chúng ta là cách Chúa Giêsu đối diện với những sự xung khắc. Trong cuộc tranh luận với kẻ thù của mình, Chúa Giêsu đã không tìm cách chứng tỏ mình đúng, nhưng mong muốn tỏ cho họ biết kinh nghiệm Ngài, với tư cách là Chúa Giêsu, có về Thiên Chúa, Cha, về Mẹ, là kinh nghiệm phải nổi bật. Hình ảnh của Thiên Chúa mà người khác có là một Thẩm phán nghiêm khắc, chỉ đe dọa và kết án. Chúa Giêsu cố gắng chứng tỏ lòng thương xót của Ngài đối với việc mù quáng tuân giữ các quy tắc và luật pháp, vì cách tuân giữ đó không có liên quan gì đối với mục tiêu của Luật là thực hành Tình yêu.
• Matthew 12, 1-2: To pick ears of corn on the Sabbath day and the criticism of the Pharisees. On a Sabbath day, the disciples went through the corn fields and they opened their way picking ears of corn to eat them. They were hungry. The Pharisees arrived and invoke the Bible to say that the disciples were transgressing the law of the Sabbath (cf. Ex 20, 8-11). Jesus also uses the Bible and responds invoking three examples taken from Scripture: (1) that of David, (2) that of the legislation on work of the priests in the temple and (3) from the action of the Prophet Hosea, that is, he quotes a historical book, a legislative book and a prophetic book. • Mt 12, 1-2 : Việc bứt bông lúa ngày Sabbat và sự phê bình của người Biệt phái. Trong một ngày Sabbat, các môn đệ đi qua cánh đồng lúa và họ mở đường bằng cách bứt bông lúa để ăn. Họ đói. Những người Biệt phái đến và nại vào Kinh Thánh để kết án các môn đệ đang vi phạm luật ngày Sabbat (x. Xh 20, 8-11). Chúa Giêsu cũng sử dụng Kinh Thánh và trả lời bằng cách nêu lên ba ví dụ được lấy từ Kinh Thánh : (1) Vua Đavít, (2) luật làm việc của các tư tế trong đền thờ và (3) từ hành động của Tiên tri Hôsê, Ngài đã trích dẫn một cuốn sách lịch sử, một cuốn sách luật và một cuốn sách tiên tri.
• Matthew 12, 3-4: The example of David. Jesus recalls that David himself did something which was forbidden by the Law, because he took the sacred bread of the temple and gave it to the soldiers to eat, because they were hungry (1 S 21, 2-7). No Pharisee had the courage to criticize King David! • Mt 12, 3-4 : Ví dụ về Vua Đavít. Chúa Giêsu nói đến chính Vua Đavít đã làm một điều Luật cấm, vì ngài đã lấy bánh thánh của đền thờ và đưa cho lính ăn, vì họ đói (1 Sm 21, 2-7). Không có người Biệt phái nào dám chỉ trích Vua Đavít!
• Matthew 12, 5-6: The example of the priests. Accused by the religious authority, Jesus argues beginning from what they themselves, the religious authority, do on the Sabbath day. On the Sabbath day, in the Temple of Jerusalem, the priests worked very much, more than the other days of the week, because they had to sacrifice the animals for the sacrifices, they had to clean, sweep, carry burdens, kill the animals, etc. and nobody said that this was against the Law, they thought it as normal! The Law itself obliged them to do all this (Nb 28, 9-10). • Mt 12, 5-6 : Ví dụ về các tư tế. Bị giáo quyền kết tội, Chúa Giêsu lập luận bằng cách bắt đầu từ những gì chính họ, là giáo quyền, làm trong ngày Sabbat. Vào ngày Sabbat, tại Đền thờ Giêrusalem, các tư tế làm việc rất nhiều việc, làm nhiều hơn những ngày khác trong tuần, vì họ phải giết súc vật để dâng hy lễ, họ phải rửa sạch, quét dọn, gánh vác, giết súc vật, v.v. và không ai nói rằng điều đó là trái Luật, họ cho đó là điều bình thường! Chính Luật buộc họ phải làm tất cả những điều đó (Ds 28, 9-10).
• Matthew 12, 7: The example of the prophets. Jesus quotes the phrase of the Prophet Hosea: I want mercy and not sacrifice. The word mercy means to have the heart (cor) in the misery (miseri) of others, that is, the merciful person has to be very close to the suffering of the persons, has to identify himself/herself with them. The word sacrifice means to have (ficio) a thing consecrated (sacri), that is, that the one who offers a sacrifice separates the sacrificed object from the profane use and placed it at a distance from the daily life of the people. If the Pharisees had had this way of looking at the life of the Prophet Hosea, they would have known that the most pleasing sacrifice for God is not that the consecrated persons lives far away from reality, but that he/she placed totally his/her consecrated heart in the service of the brothers and sisters in order to relieve them from their misery. They would not have considered guilty those who in reality were innocent. • Mt 12, 7 : Ví dụ về các tiên tri. Chúa Giêsu trích dẫn câu Tiên tri Hôsê : Ta muốn lòng nhân từ, chứ không muốn hy lễ. Chữ “lòng nhân từ” có nghĩa là có lòng (heart – cor – trái tim) trong sự khốn khổ (miseri) của người khác, nghĩa là người có lòng thương xót phải gần gũi với sự đau khổ của con người, phải đồng hoá mình với họ. Chữ “hy lễ” có nghĩa là làm (ficio) một điều linh thánh (sacri), có nghĩa là người dâng hiến hy lễ, tách hy lễ ra khỏi việc sử dụng trần tục và đặt hy lễ đó cách xa đời sống thường ngày của dân chúng. Nếu người Biệt phái có cái nhìn như thế về đời sống của Tiên tri Hôsê, họ phải biết rằng hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất không phải là người thánh hiến sống xa thực ết, nhưng họ phải hoàn toàn đặt tâm hồn thánh hiến của họ trong việc phục vụ anh chị em mình để kéo họ ra khỏi những đau khổ. Họ sẽ không kết tội những người vô tội là có tội.
• Matthew 12, 8: The Son of Man is the master of the Sabbath. Jesus ends with this phrase: The Son of Man is the Master of the Sabbath! Jesus himself is the criterion of interpretation of the Law of God. Jesus knows the Bible by heart and invokes it to indicate that the arguments of the others had no foundation. At that time, there were no printed Bibles like we have them today. In every community there was only one Bible written by hand, which remained in the Synagogue. If Jesus knew the Bible so well, it means that during the thirty years of his life in Nazareth, he had participated intensely in the life of the community, where Scripture was read every Saturday. The new experience of God the Father, made Jesus discovered much better the intention of God in decreeing the Laws of the Old Testament. Having lived thirty years in Nazareth and feeling as his own the oppression and exclusion of so many brothers and sisters, in the name of the Law, Jesus must have perceived that this could not be the sense of the Law. If God is Father, then he accepts all as sons and daughters. If God is Father, then we should be brothers and sisters among ourselves. Jesus lived this and prayed for this, from the beginning until the end. The Law should be at the service of life and of fraternity. “The human being is not made for the Sabbath, but the Sabbath for the human being” (Mk 2, 27). Because of his great fidelity to this message, Jesus was condemned to death. He disturbed the system, and the system defended itself, using its force against Jesus, because he wished that the Law be placed at the service of life, and not vice-versa. We lack very much in order to know the Bible at depth and to participate deeply in the community, like Jesus did. • Mt 12, 8 : Con Người cũng là chủ ngày Sabbat. Chúa Giêsu kết thúc với câu nói này : bằng câu này : Con Người cũng là chủ ngày Sabbat! Chính Chúa Giêsu là tiêu chí để giải thích Luật Chúa. Chúa Giêsu thuộc lòng Kinh Thánh và nại tới Kinh Thánh để chỉ cho thấy những lý chứng của người khác không có cơ sở. Vào thời đó, chưa có Kinh Thánh được in như chúng ta có ngày nay. Trong mỗi cộng đoàn chỉ có một cuốn Kinh thánh được viết bằng tay, được lưu giữ trong Hội Đường. Nếu Chúa Giêsu biết rõ Kinh Thánh, thì điều đó có nghĩa là trong suốt ba mươi năm sống ở Nazareth, Ngài đã nhiệt thành tham gia đời  sống cộng đoàn, nơi Kinh Thánh được đọc vào mỗi ngày Thứ Bảy. Kinh nghiệm mới về Chúa Cha, đã làm cho Chúa Giêsu khám phá rõ hơn ý của Thiên Chúa để công bố Luật Cựu Ước. Đã sống ba mươi năm ở Nazareth và có cảm nghiệm về sự áp bức và việc loại trừ rất nhiều anh chị em, nhân danh Luật, Chúa Giêsu phải nhận thức rằng đây không thể là ý nghĩa của Luật. Nếu Thiên Chúa là Cha, thì Ngài đón nhận tất cả là con. Nếu Thiên Chúa là Cha, thì chúng ta phải trở nên anh chị em với nhau. Chúa Giêsu đã sống điều đó và cầu nguyện cho điều đó, từ đầu cho đến cuối. Luật phải phục vụ đời sống và tình huynh đệ. “Ngày Sabbat được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbat” (Mc 2, 27). Vì trung thành tuyệt vời với sứ điệp này, Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình. Ngài gây xáo trộn cho hệ thống, và hệ thống bảo vệ chính mình, bằng cách dùng quyền lực để chống lại Chúa Giêsu, vì Ngài muốn Luật phải phục vụ đời sống, chứ không phải ngược lại. Chúng ta thiếu sót rất nhiều để có thể hiểu biết Kinh Thánh sâu xa và mật thiết tham gia vào cộng đoàn, giống như Chúa Giêsu đã làm.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
51.  Relationships of fraternal friendship

St Paul exhorts us: “Put on, as God’s chosen ones, holy and beloved, compassion, kindness, lowliness, meekness and patience, forbearing one another and, if one has a complaint against another, forgiving each other”.

The family spirit is the hallmark of the Salesian community and inspires every moment of its life: work and prayer, meals and recreation, meetings and other encounters.

In an atmosphere of brotherly friendship we share our joys and sorrows, and we are partners in our apostolic plans and experiences.

51. Những giao tiếp bằng hữu huynh đệ

Thánh Phaolô khích lệ chúng ta: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy mặc lấy những tâm tình của lòng từ bi, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ, nhẫn nại. Hãy chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau”.

Cộng thể Salêdiêng nổi bật về tinh thần gia đình. Tinh thần này làm sinh động mọi giây phút cuộc sống cộng thể: khi làm việc và cầu nguyện, lúc ăn uống và nghỉ ngơi, khi hội họp và gặp gỡ.

Trong bầu khí đầy tình bằng hữu huynh đệ, chúng ta thông truyền cho nhau những niềm vui và đau buồn, và trong tinh thần đồng trách nhiệm chúng ta chia sẻ với nhau những kinh nghiệm và kế hoạch tông đồ.

5) Personal questions 5) Câu hỏi cá nhân
• What type of conflicts do you live in the family, in society, in the Church? Which are the conflicts which concern religious practices which today, cause suffering to persons and which are a cause of discussion and polemics? Which is the image of God which is behind all these preconceptions, behind all these norms and prohibitions? • Loại xung đột nào bạn sống trong gia đình, trong xã hội, trong Giáo hội? Đó là những xung đột liên quan đến thực hành tôn giáo mà ngày nay, gây đau khổ cho con người và đó là một nguyên nhân của các cuộc thảo luận và chính trị? Đâu là hình ảnh của Thiên Chúa đứng sau tất cả những định kiến ​​này, đằng sau tất cả những chuẩn mực và sự cấm đoán này?
• What has conflict taught you during all these years? Which is the message which you draw from all this for our communities today? • Điều gì đã xung đột dạy bạn trong suốt những năm này? Thông điệp mà bạn rút ra từ tất cả những điều này cho cộng đồng của chúng ta ngày hôm nay là gì?
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
Lord, I muse on you in the watches of the night, for you have always been my help; in the shadow of your wings I rejoice; my heart clings to you, your right hand supports me. (Ps 63,7-8) Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ, suốt năm canh thầm thĩ với Ngài. Quả thật Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui. (Tv 63, 7-8)

 

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

  1. Thêm, SDB dịch và bổ sung phần Salêdiêng.

 

Từ khoá:

Bài viết liên quan Mùa Thường Niên

Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam,
Thứ Hai, ngày 23/11/2020
THEO CHÚA KITÔ TRÊN CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ
SỐNG NGAY THẲNG TRƯỚC NHAN CHÚA