LECTIO DIVINA THỨ 6 TUẦN 19 THƯỜNG NIÊN

LECTIO DIVINA THỨ 6 TUẦN 19 THƯỜNG NIÊN

NGÀY 14-08-2020 : Mt 19, 3-12

“It was because you were so hard-hearted, that Moses allowed you to divorce your wives, but it was not like this from the beginning” “Vì lòng chai đá của các ngươi mà Môsê đã cho phép các ngươi rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy”
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Almighty and ever-living God, your Spirit made us your children, confident to call you Father. Increase your Spirit within us and bring us to our promised inheritance. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen. Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu. Thánh Thần Chúa đã biến đổi chúng con thành con Chúa và tin tưởng gọi Chúa là Cha. Xin gia tăng Thánh Thần của Chúa nơi chúng con và cho chúng con được hưởng gia nghiệp Chúa đã hứa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
2) Gospel Reading : Matthew 19,3-12 2) Tin Mừng : Matthêu 19, 3-12
Some Pharisees approached Jesus, and to put him to the test they said, ‘Is it against the Law for a man to divorce his wife on any pretext whatever?’ He answered, ‘Have you not read that the Creator from the beginning made them male and female and that he said: This is why a man leaves his father and mother and becomes attached to his wife, and the two become one flesh? They are no longer two, therefore, but one flesh. So then, what God has united, human beings must not divide.’

They said to him, ‘Then why did Moses command that a writ of dismissal should be given in cases of divorce?’ He said to them, ‘It was because you were so hard-hearted, that Moses allowed you to divorce your wives, but it was not like this from the beginning. Now I say this to you: anyone who divorces his wife — I am not speaking of an illicit marriage — and marries another, is guilty of adultery.’ The disciples said to him, ‘If that is how things are between husband and wife, it is advisable not to marry.’ But he replied, ‘It is not everyone who can accept what I have said, but only those to whom it is granted. There are eunuchs born so from their mother’s womb, there are eunuchs made so by human agency and there are eunuchs who have made themselves so for the sake of the kingdom of Heaven. Let anyone accept this who can.’

Khi ấy, có những người biệt phái đến cùng Chúa Giêsu và hỏi thử Người rằng: “Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lẽ gì không?” Người đáp: “Nào các ông đã chẳng đọc thấy rằng: Từ thuở ban đầu, Tạo Hoá đã dựng loài người có nam có nữ, và Người đã phán: Bởi thế nên người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thân xác? Cho nên họ không còn là hai, nhưng là một thân xác. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly”. Họ hỏi lại: “Vậy tại sao Môsê đã truyền cấp tờ ly hôn mà cho rẫy vợ?” Người đáp: “Vì lòng chai đá của các ông mà Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy. Tôi bảo các ông rằng: Ai rẫy vợ, trừ nố gian dâm, và đi cưới vợ khác, thì phạm tội ngoại tình. Và ai cưới người đã bị rẫy, cũng phạm tội ngoại tình”.

Các môn đệ thưa Người rằng: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì tốt hơn đừng cưới vợ”. Người đáp: “Không phải mọi người hiểu được điều ấy, nhưng chỉ những ai được ban cho hiểu mà thôi. Vì có những hoạn nhân từ lòng mẹ sinh ra, có những hoạn nhân do người ta làm nên, và có những người vì Nước Trời, tự trở thành hoạn nhân. Ai có thể hiểu được thì hiểu”. Đó là lời Chúa.

3) Reflection 3) Suy ngắm
• Context. Up to chapter 18 Matthew has shown how the discourses of Jesus have marked the different phases of the progressive constitution and formation of the community of disciples around their Master. Now in chapter 19, 1 this small group withdraws from the territory of Galilee and arrives in the territories of Judaea. The call of Jesus that involves his disciples advances more until the decisive choice: the acceptance or rejection of the person of Jesus. Such a phase takes place along the road that leads to Jerusalem (chapters 19-20), and finally with the arrival in the city and to the Temple (chapters 21-23). All the encounters that Jesus experiences in the course of these chapters take place along this journey from Galilee to Jerusalem. • Bối cảnh. Cho đến chương 18, Matthêu tỏ lộ cách các bài giảng của Chúa Giêsu đã đánh dấu các giai đoạn khác nhau trong việc hình thành và huấn luyện tiệm tiến cộng đoàn các môn đệ xung quanh Thầy của họ. Bây giờ trong chương 19, 1 nhóm nhỏ này rút khỏi vùng đất Galilê và đến vùng đất Giuđê. Lời kêu gọi của Chúa Giêsu thôi thúc các môn đệ Ngài hướng đến sự lựa chọn quyết định : chấp nhận hay từ chối con người của Chúa Giêsu. Giai đoạn đó diễn ra dọc theo con đường dẫn đến Giêrusalem (chương 19-20), và cuối cùng đến thành phố và đến Đền thờ (chương 21-23). Tất cả các cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu trải qua trong các chương này, được thực hiện trong hành trình từ Galilê đến Giêrusalem.
• The encounter with the Pharisees. Passing through Trans-Jordanian (19, 1) the first encounter is with the Pharisees and the theme of the discussion of Jesus with them becomes a reason for reflection for the group of the disciples. The question of the Pharisees concerns divorce and places Jesus in difficulty, particularly, the more solid and stable reality for every Jewish community. The intervention of the Pharisees wants to accuse Jesus because of his teaching. It is a question of a true process: Matthew considers it as “testing him”, “a way of tempting him”. The question is really a crucial one: “Is it against the Law for a man to divorce his wife on any pretext whatsoever?” (19, 3). The awkward malicious attempt of the Pharisees to interpret the text of DT 24, 1 to place Jesus in difficulty does not escape the attention of the reader: “Suppose a man has taken a wife and consummated the marriage, but she has not pleased him and he has found some impropriety of which to accuse her, he has, therefore, made out a writ of divorce for her and handed it to her and then dismissed her from his house”. This text had given place, throughout the centuries, to innumerable discussions: to admit divorce for any reason whatsoever; to request a minimum of bad behaviour, a true adultery. • Cuộc gặp gỡ người Biệt phái. Sau khi vượt qua sông Giorđan (19, 1), đã xẩy ra cuộc gặp gỡ đầu tiên với người Biệt phái và chủ đề tranh luận của Chúa Giêsu với họ trở thành lý do cho nhóm môn đệ suy tư. Câu hỏi của người Biệt phái liên quan đến việc ly dị đã đặt Chúa Giêsu vào khó khăn, đặc biệt, đó là thực tế vững chắc cho mỗi cộng đoàn Do Thái. Sự can thiệp của người Biệt phái muốn cáo buộc Chúa Giêsu vì giáo huấn của Ngài. Đó là một vấn đề quá trình thực sự: Matthêu cho đó là cách “thử thách Ngài”, “cách cám dỗ Ngài”. Một vấn đề thực sự cam go : “Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lẽ gì không?” (19, 3). Người muốn giải thích bản văn Đệ Nhị Luật 24, 1 với dụng ý xấu, để đặt Chúa Giêsu trong một khó khăn mà Ngài không thể tránh khỏi sự chú ý của độc giả: Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà”. Bản văn này, trong nhiều thế kỷ, đã gây nên vô số cuộc tranh luận : chấp nhận cho ly dị vì bất cứ lý do nào; chỉ cần nại tới hành xử xấu nhỏ bé nào đó, đã đủ để kết tội thực sự ngoại tình.
• It is God who unites. Jesus responds to the Pharisees having recourse to Gn 1, 17: 2, 24, which presents the question about the primary will of God, the Creator. The love that unites man to woman, comes from God and because of its origin, it unifies and cannot be separated. If Jesus quotes Gn 2, 24: “This is why a man leaves his father and mother and becomes attached to his wife and they become one flesh” (19, 5), it is because he wants to underline a particular and absolute principle: it is the creating will of God that unites man and woman. When a man and a woman unite together in marriage, it is God who unites them; the term “coniugi” – couple – comes from the verb joined together, to unite, that is to say, that the joining together of the two partners sexually is the effect of the creative word of God. The response of Jesus to the Pharisees reaches its summit: marriage is indissoluble from its original constitution. Jesus continues this time drawing from Ml 2, 13-16: to repudiate the wife is to break the covenant with God and according to the prophets this covenant has to be lived, above all, by the spouses in their conjugal union (Ho 1-3; Is 1, 21-26; Jr 2, 2; 3, 1.6-12; Ez 16; 23; Is 54, 6-10; 60-62). The response of Jesus appears as a contradiction to the Law of Moses which grants the possibility to grant a writ of divorce. To motivate his response Jesus reminds the Pharisees: if Moses gave this possibility it is because you were so hardhearted (v. 8), more concrete, because of your indocility to the Word of God. The Law of Gn 1, 26; 2, 24 had never been modified, but Moses was obliged to adapt it to an attitude of indocility. The first marriage was not annulled by adultery. To contemporary man and particularly, to the ecclesial community the word of Jesus clearly says that there should be no divorces; and, just the same, we see that there are; in pastoral life the divorced persons are accepted, to whom the possibility of entering into the Kingdom is always open. The reaction of the disciples is immediate: “If that is how things are between husband and wife, it is advisable not to marry” (v. 10). The response of Jesus continues to sustain the indissolubility of matrimony, impossible for the human mentality but possible for God. The eunuch of whom Jesus speaks is not the one who is unable to generate but the one, who separated from his wife, continues to live in continence, he remains faithful to the first conjugal bond: he is an eunuch as regards all other women. • Chính Thiên Chúa kết hợp. Chúa Giêsu trả lời người Biệt phái bằng cách nại tới Sách Sáng thế 1, 17, 2.24, trong đó trình bày vấn đề ý định ban đầu của Thiên Chúa, Tạo Hóa. Tình yêu kết hợp người đàn ông với người nữ, xuất phát từ Thiên Chúa và chính vì cội nguồn, nó kết hợp và không được phân ly. Nếu Chúa Giêsu trích dẫn St 2, 24 : Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (19, 5), vì Ngài muốn nhấn mạnh đến một nguyên tắc cụ thể và tuyệt đối : đó là ý muốn sáng tạo của Thiên Chúa khi kết hợp người nam và người nữ. Khi người nam và người nữ kết hợp với nhau trong hôn nhân, thì chính Thiên Chúa kết hợp họ; thuật ngữ “coniugi” – đôi” xuất phát từ động từ kết hợp với nhau, có nghĩa sự kết hợp phái tính của 2 người là kết quả của lời Thiên Chúa sáng tạo. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho người Biệt phái đạt đến cao điểm : hôn nhân thì bất khả phân ngay từ cơ cấu ban đầu của nó. Lần này, Chúa Giêsu tiếp tục rút ra từ Ml 2, 13-16 : bỏ vợ là bỏ giao ước với Thiên Chúa và theo các ngôn sứ, giao ước này, trước hết, phải được vợ chồng sống trong kết hợp hôi phối của mình (Os 1-3; Is 1, 21-26; Gr 2, 2; 3, 1.6-12; Ed 16. 23; Is 54, 6-10; 60-62). Câu trả lời của Chúa Giêsu xuất hiện như một mâu thuẫn với Luật Môsê, vì hình như Luật Môsê cho phép khả năng ban hành văn bản ly hôn. Để biện minh cho câu trả lời của mình, Chúa Giêsu nhắc nhở người Biệt phái : nếu Môsê cho khả thể đó, vì đưa ra khả năng này thì đó là vì bạn quá khó tính (câu 8), cụ thể hơn, vì lòng chai dạ đá của họ (c. 8), cụ thể hơn, vì họ không tuân phục Lời Chúa. Luật của St 1, 26; 2, 24 chưa bao giờ được sửa đổi, nhưng Ông Môsê bó buộc phải thích ứng với thái độ không vâng phục của họ. Cuộc hôn nhân đầu tiên không bị hủy bỏ bởi ngoại tình. Đối với người đương thời và đặc biệt, đối với cộng đoàn Giáo hội, Lời của Chúa Giêsu rõ ràng dạy rằng không hề có ly dị; mặc dầu vậy, chúng ta thấy có ly dị; trong đời sống mục vụ, những người ly dị cũng có thể được chập nhận, và khả năng được vào Nước Trời luôn được rộng mở cho họ. Phản ứng của các môn đệ ngay lập tức: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì tốt hơn đừng cưới vợ” (câu 10). Câu trả lời của Chúa Giêsu tiếp tục duy trì tính bất khả phân ly của hôn nhân, không có thể đối với não trạng con người, nhưng có thể đối với Thiên Chúa. Hoạn nhân được Chúa Giêsu nói tới không phải là người không có khả năng sinh sản, nhưng là người xa cách vợ, để tiếp tục sống tiết dục, trung thành dây hôn phối đầu tiên : họ là hoạn nhân đối với tất cả các người nữ khác.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
23.   Meaning of our profession

Religious profession is a sign of a loving encounter between the Lord who calls and the disciple who responds by giving himself totally to God and to his brothers and sisters.

It is one of the most lofty choices a believer can consciously make, an act which recalls and endorses the mystery of his baptismal covenant by giving it a deeper and fuller ex­pression.

By publicly binding himself in the eyes of the Church, through whose ministry he is more intimately consecrated to the service of God, the Salesian begins a new life, which is lived out in a service of permanent dedica­tion to the young.

Profession is also the expression of a mutual commitment between the professed mem­ber who enters the Society and the Society which receives him with joy.

23. Ý nghĩa của việc tuyên khấn chúng ta

Việc tuyên khấn tu trì là dấu chỉ cuộc gặp gỡ tình yêu giữa Chúa Đấng kêu gọi và người môn đệ kẻ đáp trả qua việc tự hiến trọn vẹn cho Chúa và anh em.

Đây là một trong những sự chọn lựa cao cả nhất mà một tín hữu có thể ý thức thực hiện được, một hành vi lập lại và tái xác nhận mầu nhiệm giao ước thánh tẩy để đi đến một lối diễn tả thâm sâu và tròn đầy hơn.

Khi công khai cam kết trước mặt Hội Thánh và được hiến thánh cách thâm sâu hơn qua thừa tác vụ của Hội Thánh để phục vụ Thiên Chúa, người Salêdiêng khởi sự một cuộc sống mới được thể hiện bằng sự tận tụy suốt đời vì các thanh thiếu niên.

Việc tuyên khấn cũng biểu hiện một sự cam kết song phương của người tuyên khấn gia nhập Tu Hội và Tu Hội vui mừng tiếp nhận người ấy.

5) Personal questions 5) Câu hỏi cá nhân
• As regards marriage do we know how to accept the teaching of Jesus with simplicity, without adapting it to our own legitimate choices to be comfortable? • Liên quan đến hôn nhân, chúng ta có biết cách đơn sơ chấp nhận lời dạy dỗ của Chúa Giêsu, không cần phải thích nghi với những lựa chọn hợp pháp của chúng ta và để được thoải mái không?
• The evangelical passage has reminded us that the design of the Father on man and on woman is a wonderful project of love. Are you aware that love has an essential law: it implies the total and full gift of one’s own person to the other? • Đoạn Tin Mừng này nhắc nhở cho chúng ta rằng kế hoạch của Chúa Cha về người nam và người nữ là một kế hoạch tình yêu kỳ diệu. Bạn có ý thức rằng tình yêu có một quy luật thiết yếu: nó bao hàm sự trao ban hoàn toàn của một người cho người khác?
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
God, create in me a clean heart, renew within me a resolute spirit, do not thrust me away from your presence, do not take away from me your spirit of holiness. (Ps 51,10-11) Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. (Tv 51, 12-13)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

  1. Thêm, SDB dịch và bổ sung phần Salêdiêng.

 

Từ khoá:

Bài viết liên quan Mùa Thường Niên

THỨ 6 SAU CN XXIV TN
THỨ NĂM
THỨ TƯ SAU CN XXIV TN
MẸ SẦU BI
LECTIO DIVINA LỄ MẸ SẦU BI