LECTIO DIVINA THỨ BẢY TUẦN THÁNH

LECTIO DIVINA THỨ BẢY TUẦN THÁNH

NGÀY 11-04-2020 – Lc 23, 50-56

The light of the Bridegroom, shines beyond the night (Luke 23, 50-56) Ánh sáng của Tân Lang, chiếu sáng khắp đêm đen (Lc 23:50-56)
1. PRAYER 1.  Cầu nguyện
Lord, on this day, there is only emptiness and solitude, absence and silence: a tomb, a lifeless body, and the dark of the night. You are no longer visible, no word, no breathing. You are observing the Sabbath, in total rest. Where will I find you, now that I have lost you?

I will follow the women, I too will sit down together with them, in silence, to make ready the fragrances of love. From my heart, Lord, I will take the most delicate fragrances, the most precious, just as the woman did, when in her love she broke the alabaster jar and spread its perfume all around. 

And I will call the Spirit, with the words of the bride, I will say again, “Awake, north wind, come, wind of the south! Breathe over my garden” (Song 4,16)

Lạy Chúa, vào ngày này, chỉ có sự trống rỗng và cô đơn, thiếu vắng và yên lặng:  một ngôi mộ, một thi thể bất động, và bóng đêm.  Chúa không còn được trông thấy nữa, không lời nói, không hơi thở.  Chúa đang giữ ngày Sabbát, hoàn toàn nghỉ ngơi.  Con biết đi tìm Chúa ở đâu, giờ đây con đã mất Chúa rồi phải không?

Con sẽ theo chân những người phụ nữ, con cũng sẽ ngồi xuống cùng với họ, trong im lặng, để chuẩn bị các loại dầu thơm của tình yêu.  Lạy Chúa, từ trái tim con, con sẽ lấy những dầu thơm hảo hạng nhất, quý giá nhất, giống như người phụ nữ kia đã làm, khi bà đập vỡ bình ngọc trắng đựng dầu thơm và hương thơm của nó lan tỏa khắp nơi.

Và con sẽ kêu cầu Chúa Thánh Thần, với những lời của tân nương, con sẽ lại nói:  “Gió bấc hãy thổi lên đi, gió nam hãy lùa tới, thổi mát vườn của tôi, cho hương thơm lan tỏa!” (Dc 4:16)

2. READING 2.  Bài Đọc 
From the Gospel according to Luke (23,50-56)

50 Now there was a good and righteous man named Joseph, who, though a member of the council, 51had not agreed to their plan and action. He came from the Jewish town of Arimathea, and he was waiting expectantly for the kingdom of God. 52This man went to Pilate and asked for the body of Jesus. 53Then he took it down, wrapped it in a linen cloth, and laid it in a rock-hewn tomb where no one had ever been laid. 54It was the day of Preparation, and the sabbath was beginning. 55The women who had come with him from Galilee followed, and they saw the tomb and how his body was laid. 56Then they returned, and prepared spices and ointments. On the sabbath they rested according to the commandment.

Trích Tin Mừng theo thánh Luca (23:50-56) 

50 Khi ấy có một người tên là Giuse, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. 51 Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng.  Ông là người thành Arimathê, một thành của người Do Thái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. 52 Ông đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. 53 Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào trong ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. 54 Hôm ấy là ngày áp lễ, và ngày Sabbát bắt đầu ló dạng. 55 Cùng đi với ông Giuse, có những người phụ nữ đã theo Đức Giêsu từ Galilêa.  Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. 56 Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm.  Nhưng ngày Sabbát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.

3. MEDITATION 3.  Suy gẫm Lời Chúa
“Now”,  a very simple expression, full of life and truth, marking the existing of a cry that breaks through the indifference, shakes us from our paralysis, and breaks through the veil. It stands in opposition to and as an escape from the great distance taken by the disciples of Jesus throughout his passion. Peter followed him from afar (Lk 22,54); all those who knew him and the women who had followed him, looked on from a distance (L23,49), but Joseph of Arimathaea, steps forward, introduces himself to Pilate and asks for Jesus’ body. He is there, not listed among the absent, he is near, not standing at a distance, and he will never leave. “Bây giờ”, một câu nói rất đơn giản, đầy sức sống và sự thật, đánh dấu sự hiện hữu của tiếng kêu phá vỡ sự thờ ơ, đem chúng ta ra khỏi sự tê liệt của mình, và làm xé rách mạng che mặt.  Nó đứng đối diện và như là một lối thoát từ rất xa bởi các môn đệ của Chúa Giêsu qua cuộc Khổ Nạn của Người.  Phêrô đi theo Chúa ở đàng xa (Lc 22:54); tất cả những người quen biết Chúa và những người phụ nữ đã đi theo Người, chứng kiến từ đàng xa (Lc 23:49), nhưng ông Giuse thành Arimathê, tiến tới phía trước, đến gặp tổng trấn Philatô và xin thi hài Chúa Giêsu.  Ông Giuse đã ở đó, không được kể trong số những người vắng mặt, ông ở gần, không đứng ở đàng xa, và ông sẽ không bao giờ bỏ đi.
It was the day of Preparation, and the sabbath was beginning”. This gospel is situated in that moment that divides the dark of the night from the light of the new day. The Greek verb used by Luke seems to describe clearly the movement of this holy Saturday, that little by little emerges from the darkness and rises and grows beyond the light. In this resurrection movement we too are caught up, as we approach this scripture in faith. But, we have to choose, to remain in death, in the preparation, that is only preparation and not fulfillment, or accept to enter the movement in order to rise in the light. As the Lord says, “Awake, you who sleep, rise from the dead and Christ will shine on you” (Eph 5,14) using the same verb. “Đó là ngày Chuẩn Bị, và ngày Sabbát đang bắt đầu”.  Tin Mừng này được đặt trong thời điểm phân chia bóng tối của đêm đen với ánh sáng của ngày mới.  Động từ chữ Hy Lạp được dùng bởi thánh Luca dường như mô tả rõ ràng hoạt động của Thứ Bảy Tuần Thánh này, rằng từ từ hiện lên từ tối tăm và dần dần xuất hiện và vượt hẳn sánh sáng.  Trong sự chuyển động sống lại này, chúng ta cũng theo sát, khi chúng ta tiếp cận với phần Kinh Thánh này trong đức tin.  Thế nhưng, chúng ta phải chọn lựa, hoặc là ở lại trong cái chết, trong sự chuẩn bị, đó chỉ là chuẩn bị chứ không phải là thực hiện, hoặc là chấp nhận bước vào sự chuyển động để được sống lại trong ánh sáng.  Như Chúa đã xử dụng cùng một động từ và nói:  “Tỉnh giấc đi, hỡi người đang ngủ!  Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào!  Và Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!”  (Êp 5:14)
“who had come with him from Galilee, followed”,  These words are very beautiful, referring to the movement of the women, because they help us to capture all the intensity of their participation in what was happening to Jesus. Indeed, Luke uses certain nuances, for example, using a form of the verb “to follow” that suggests greater intensity. The reference to “with him”  has the same effect. They went together, decisively, urged on by their love. Their journey, which began in Galilee, continues, even through death, and absence. Perhaps they feel that they are not alone and they begin to proclaim that He is present.    “Những người đến từ Galilêa với Người, đã đi theo Người”, những lời rất tuyệt đẹp này, đề cập đến việc di chuyển của những người phụ nữ, bởi vì họ giúp chúng ta nắm bắt được tất cả mức độ tham gia của họ trong những gì đang xảy ra với Chúa Giêsu.  Thật vậy, thánh Luca xử dụng những sắc thái nhất định, ví dụ, dùng một thể của động từ “đi theo” cho thấy cường độ mãnh liệt hơn.  Việc nhắc đến chữ “với Người” cũng có tác dụng tương tự.  Một cách dứt khoát, họ đi cùng với nhau, thúc đẩy bởi tình yêu của họ.  Cuộc hành trình của họ, bắt đầu từ miền Galilêa, tiếp tục, thậm chí qua cái chết, và sự vắng mặt.  Có lẽ họ cảm thấy rằng họ không đơn độc và họ bắt đầu công bố rằng Chúa đang hiện hữu.
“and they saw the tomb”, It is wonderful to note that in the eyes of these women there is a light that is more powerful than the night! They can see beyond, they observe, they take note and they look intently and with real interest: in one word, they contemplate. The eyes of the heart open out to the reality of what is happening. As the gaze of Jesus reaches them, they bear within them his image, the face of that love that has visited and illumined their whole existence. Not even the drama of death and physical separation could extinguish the Sun, that never sets, even though it is night. Và họ đã thấy ngôi mộ”, thật tuyệt vời khi lưu ý rằng trong mắt của những người phụ nữ này có một sự sáng mạnh mẽ hơn đêm tối!  Các bà có thể nhìn thấy xa hơn, họ quan sát, họ lưu ý, họ nhìn chăm chú và với lòng quan tâm thực sự:  nói tóm lại, họ chiêm ngắm.  Con mắt của trái tim mở ra với thực tế về những gì đang xảy ra.  Như ánh mắt của Đức Giêsu nhìn về phía họ, họ mang trong mình hình ảnh của Người, khuôn mặt của tình yêu đã đến thăm và soi sáng toàn thể sự hiện hữu của họ.  Thậm chí ngay cả cái chết thê lương và việc chia cách thể lý cũng không có thể dập tắt được Vầng Thái Dương không bao giờ lặn, mặc dù đó là ban đêm.
“Then they returned”,   As well as that, they still have the internal strength to take decisions, to do things, to set out once more on the way. They turn their backs on death, on absence, and they go home, like the victorious warrior. They carry no trophies, but in their hearts they bear a certainty, the courage of an ardent love. “Sau đó, họ trở về”, cũng như thế, họ vẫn còn đủ sức lực trong người để quyết định, để làm điều gì đó, để ra đi lần nữa.  Họ quay lưng lại với cái chết, với sự thiếu vắng, và họ trở về nhà, giống như các chiến sĩ ca khúc khải hoàn.  Họ không có những chiến tích, nhưng trong con tim của họ, họ có một sự quả quyết, lòng can đảm của một tình yêu mãnh liệt.
“and prepared spices and ointments”. This was the task of the priests, as the Scriptures tell us (I Chron 9,30); it is a sacred duty, almost liturgical, almost like a prayer. The women of the Gospel, in fact, pray and succeed in transforming the night of death into a place of blessing, hope, loving and attentive care. No glance, no movement or gesture is without meaning for them. They prepare, or more precisely, as we see from the meaning of the corresponding Hebrew verb, they compose the perfumed aromas using all their wisdom to mix the necessary ingredients, in the right measure and proportion: a wholly feminine art, wholly maternal, born from within, from the womb, a privileged place of love. Holy Saturday, indeed, is like a womb that embraces life: an embrace that protects and nurtures the new creature that is about to be born. “chuẩn bị thuốc thơm và mộc dược”.  Đây là nhiệm vụ của các thày tư tế, như Kinh Thánh đã viết (1Sb 9:30); đó là nghĩa vụ thiêng liêng, gần như là phụng vụ, cũng gần giống như lời kinh nguyện.  Trên thực tế, những người phụ nữ của Tin Mừng cầu nguyện và thành công trong việc biến đêm đen của cái chết trở nên nơi đầy ân sủng, hy vọng, yêu thương và ân cần chăm sóc.  Không một ánh mắt, không một động tác hay cử chỉ nào là vô nghĩa đối với họ.  Họ chuẩn bị, hay nói chính xác hơn, như chúng ta thấy từ ý nghĩa của động từ tương ứng trong tiếng Do Thái, họ tận dụng mọi kiến thức hiểu biết để pha trộn các nguyên liệu cần thiết để chế biến dầu thơm, trong việc cân đo đúng liều lượng:  một nghệ thuật hoàn toàn nữ tính, hoàn toàn thuộc tình mẫu tử, từ thuở sinh ra, từ trong lòng mẹ, nơi chốn dành cho tình yêu thương.  Thật thế, thứ Bảy Tuần Thánh cũng giống như một cung lòng đang cưu mang sự sống:  cái ôm ấp để bảo vệ và nuôi dưỡng một tạo vật sắp sửa được sinh ra.
“On the sabbath they rested”, What rest are we really talking about? What cessation, what suspension is coming about in the lives of these women, in the depth of their hearts? The verb that Luke uses clearly suggests “silence”, a silence that turns into the main actor in this Sabbath, a Holy Saturday of waiting. There are no more words to be said, no declarations, no debate: all the world is silent, as the wind of the Holy Spirit blows (cf. Job 38,17) and the fragrance spreads. One song returns to the heart, in the night, (Ps 76,7): it is a song of love, repeated by the women, and with them, Joseph, and everyone, who like him, is not bound by the decisions and the actions of others (v.5) in this world. The words are the words that the Bride in the Song of Songs repeats, the last words, kept in reserve for the Beloved, when, right at the end of the book, she says: “Make haste, my beloved, and be like a gazelle or a young stag upon the mountains of spices”. (Song 8,14). This is the cry of the resurrection, the song of victory over death. “Vào ngày Sabbát, họ nghỉ ngơi”, chúng ta đang thực sự nói về việc nghỉ ngơi gì?  Điều gì chấm dứt, những gì sắp xảy đến trong cuộc sống của những người phụ nữ này, trong sâu thẳm của trái tim họ?  Động từ mà thánh Luca dùng cho thấy rõ ràng gợi ra “sự im lặng”, một sự im lặng biến thành diễn viên chính trong ngày Sabbát này, Thứ Bảy Tuần Thánh của sự chờ đợi, như cơn gió của Chúa Thánh Thần thổi đến (xem G 38:17) và hương thơm tỏa lan.  Một bản thánh ca chợt hiện về trong tâm trí, trong đêm khuya (Tv 77:7):  đó là bài thánh vịnh về tình yêu, được lặp lại bởi những người phụ nữ, và cùng với họ, ông Giuse, và tất cả mọi người, giống như ông ấy, không bị ràng buộc bởi các quyết định và hành động của những người khác (câu 5) ở thế gian này.  Những lời là văn từ mà Tân Nương trong sách Diễm Ca lặp lại, những chữ cuối, được dành riêng cho Người Môn Đệ Chúa Yêu, khi tại đoạn cuối của cuốn sách, cô ta nói rằng:  “Chạy trốn mau, người yêu hỡi, hãy làm linh dương, làm nai nhỏ của em tung tăng trên núi đồi cỏ thơm bát ngát” (Dc 8:14).  Đây là tiếng kêu của sự sống lại, bài hát chiến thắng trên sự chết.
4. SALESIAN CONSTITUTIONS 4. HIẾN LUẬT SALÊDIÊNG
63.  Witness of the world to come

The offering of his own freedom through obedience, the spirit of evangelical poverty and the love which becomes a gift in chastity, make the Salesian a sign of the power of the resurrection.

The evangelical counsels, fashioning his heart entirely for the Kingdom, help him to discern and welcome God’s action in history;  in the simplicity and hard work of dally life they transofrm him into an educator who proclaims to the young “new heavens and a new earth”, awakening in them hope and the dedication and joy to which it gives rise.

63. Chứng tá về thế giới tương lai

Việc dâng hiến sự tự do của mình trong vâng phục, tinh thần nghèo khó Tin Mừng và tình yêu được dâng hiến trong thanh khiết biến người Salêdiêng nên dấu biểu lộ sức mạnh của sự sống lại.

Trong khi uốn nắn con tim họ nên hoàn toàn cho Nước Trời, các Lời Khuyên Phúc Âm giúp người Salêdiêng biện phân và đón nhận hành động của Thiên Chúa trong lịch sử; trong sự giản dị và lao nhọc của cuộc sống hằng ngày, các lời khuyên ấy biến đổi người Salêdiêng thành nhà giáo dục loan báo “trời mới đất mới” cho thanh thiếu niên, thức tỉnh nơi các em những nỗ lực dấn thân và niềm vui của đức cậy.

5. QUESTIONS FOR REFLECTION 5.  Một vài câu hỏi cho việc suy niệm
·        Where am I today? Do I stand, perhaps, at a distance, not wanting to come any closer to Jesus, not wanting to look for him, not wanting to wait for him? ·        Hôm nay tôi đang ở đâu?  Có phải tôi đang đứng, ở xa xa, không muốn đến gần hơn với Chúa Giêsu, không muốn tìm kiếm Người, không muốn chờ đợi Người không?
·        What is happening inside me, in the attitudes of my heart? Would I be able to follow the women, and walk into the night, into death, into the absence, into the emptiness? ·        Điều gì đang xảy ra bên trong con người tôi, trong thái độ của con tim tôi?  Tôi sẽ có thể nào đi theo những người phụ nữ, và bước đi vào trong đêm tối, vào trong cái chết, vào trong sự vắng mặt, vào trong sự trống vắng không?
·        Are my eyes open to see the place of the burial, the stone that hides the Lord Jesus? Can I experience contemplation, that is, can I see in some depth, beyond the surface? Do I believe in the presence of the Lord, stronger than the tomb and the rock? ·        Tôi có mở mắt để nhìn thấy nơi an táng, tảng đá che giấu Chúa Giêsu không?  Tôi có thể trải nghiệm được sự chiêm niệm không, đó là, tôi có thể nhìn thấy những điều trong chiều sâu, vượt khỏi cái lớp bề ngoài không?  Tôi có tin vào sự hiện diện của Chúa, thì mạnh mẽ hơn ngôi mộ và tảng đá không?
·        Am I willing to go back, along with the women? That is, to go through a journey of conversion, change? ·        Tôi có sẵn sàng để quay trở lại, đi cùng với những người phụ nữ không?  Có nghĩa là, phải đi qua một hành trình hoán cải, thay đổi không?
·        Is there space in me for silence, for the attention of the heart, able to chose the right fragrance, the best ingredients for life, for the gift of myself, for openness to God? ·        Có một không gian nào trong tôi dành cho sự im lặng, cho sự chú ý đến tâm hồn, để có thể chọn lựa thuốc thơm xứng hợp, những hương liệu tốt nhất cho đời sống, cho món quà của chính thân mình, cho sự rộng mở với Thiên Chúa không?
·        Do I feel arising within me the desire to proclaim the resurrection, the new life in Christ, all around me? Am I too, at least somewhat, like the women of the Gospel, who repeat the invitation of the Bridegroom, “Rise!”

 

·        Tôi có cảm thấy nảy sinh trong tôi lòng ước ao đi công bố sự phục sinh, sự sống mới trong Đức Kitô với tất cả những người chung quanh tôi không?  Hay phần nào tối thiểu, tôi cũng có giống như những người phụ nữ trong sách Tin Mừng, những người lặp lại lời mời của Tân Lang:  “Hãy chỗi dậy!” không?
6. CLOSING PRAYER 6.  Lời Nguyện kết
Lord, for you the night is as clear as the day! Lạy Chúa, đối với Chúa thì ban đêm cũng chiếu sáng như ban ngày! 
Song of Trust and Security in God

Protect me, O God, for in you I take refuge. 
I say to the Lord, ‘You are my Lord;
I have no good apart from you.’

The Lord is my chosen portion and my cup;
you hold my lot. 
The boundary lines have fallen for me in pleasant places;
I have a goodly heritage.

I bless the Lord who gives me counsel;
in the night also my heart instructs me. 
I keep the Lord always before me;
because he is at my right hand, I shall not be moved.

Therefore my heart is glad, and my soul rejoices;
my body also rests secure. 
For you do not give me up to Sheol,
or let your faithful one see the Pit.

You show me the path of life.
In your presence there is fullness of joy;
in your right hand are pleasures for evermore.

from Psalm 16

 

Bài ca vịnh của Lòng Tín Thác và Cậy Trông vào Thiên Chúa

Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con,

vì bên Ngài, con đang ẩn náu.

Con thưa cùng CHÚA: “Ngài là Chúa con thờ,

ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?”

Lạy CHÚA, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,

là chén phúc lộc dành cho con;

số mạng con, chính Ngài nắm giữ.

Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,

vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn.

Con chúc tụng CHÚA hằng thương chỉ dạy,

ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.

Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,

được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.

Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan,

thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.

Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty,

không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ.

Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống:

trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,

ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!

(Trích Thánh Vịnh 16)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

  1. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

 

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa

Chúa nhật lễ Hiện xuống
LỄ HIỆN XUỐNG
CON CÓ YÊU MẾN THẦY?
GIỜ TÔN VINH
HƯỚNG MẮT VỀ TRỜI
ANH EM PHẢI CANH THỨC