LECTIO DIVINA THỨ NĂM TUẦN 4 MÙA CHAY

LECTIO DIVINA THỨ NĂM TUẦN 4 MÙA CHAY

NGÀY 26-03-2020 : Ga 5, 31-47

“You have placed your hopes on Moses. Moses will be the one who accuses you. “Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Lord our God, we know, perhaps more in theory than in practice, that you are with us, that you are our God and we your people.Forgive us, Lord, when we fashion our own gods made in our own image – honour, power, prestige, things to which we are attached and enslaved. Remind us again and again that you are our loyal God, who made us in your own indelible image and who shows us your perfect likeness in Jesus Christ, your Son and our Lord. Lạy Chúa, là Thiên Chúa của chúng con, chúng con có lẽ biết, Về lý thuyết nhiều hơn là trong thực hành, Rằng Chúa đang ở cùng chúng con, Rằng Chúa là Thiên Chúa của chúng con và chúng con là dân của Chúa. Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con, những khi chúng con rập khuôn các thần thánh của riêng chúng con được dựng nên theo chính hình ảnh của chúng con –danh vọng, quyền lực, thanh thế, những điều mà chúng con gắn bó và làm nô lệ. Xin Chúa hãy nhắc nhở chúng con nhiều lần Rằng Chúa là Thiên Chúa trung tín của chúng con, Đấng đã tạo dựng chúng con theo hình ảnh không thể xóa nhòa của Chúa Và là Đấng cho chúng con thấy chân dung hoàn hảo của Chúa Trong Đức Giêsu Kitô, Con Chúa và là Chúa chúng con.   
2) Gospel Reading : John 5, 31-47 2) Tin Mừng : Ga 5, 31-47
Jesus said to the Jews: “Were I to testify on my own behalf, my testimony would not be true; but there is another witness who speaks on my behalf, and I know that his testimony is true. You sent messengers to John, and he gave his testimony to the truth- not that I depend on human testimony; no, it is for your salvation that I mention it. John was a lamp lit and shining and for a time you were content to enjoy the light that he gave. But my testimony is greater than John’s: the deeds my Father has given me to perform, these same deeds of mine testify that the Father has sent me. Besides, the Father who sent me bears witness to me himself. You have never heard his voice, you have never seen his shape, and his word finds no home in you because you do not believe in the one whom he has sent. You pore over the scriptures, believing that in them you can find eternal life; it is these scriptures that testify to me, and yet you refuse to come to me to receive life! Human glory means nothing to me. Besides, I know you too well: you have no love of God in you. I have come in the name of my Father and you refuse to accept me; if someone else should come in his own name you would accept him. How can you believe, since you look to each other for glory and are not concerned with the glory that comes from the one God? Do not imagine that I am going to accuse you before the Father: you have placed your hopes on Moses, and Moses will be the one who accuses you. If you really believed him you would believe me too, since it was about me that he was writing; but if you will not believe what he wrote, how can you believe what I say? Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do Thái rằng:  “Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực.  Có một Đấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực.  Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật.  Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát.  Gioan là cây đèn cháy sáng.  Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian.  Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan:  vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm.  Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta.  Và Chúa Cha, Đấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta.  Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Đấng Người đã sai đến.  Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống!  Ta không tìm vinh quang nơi loài người.  Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa.  Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận.  Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó.  Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được?  Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha.  Kẻ tố cáo các ngươi là Môisen, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng.  Vì nếu các ngươi tin Môisen, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môisen đã viết về Ta.  Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môisen đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?”
3) Reflection 3) Suy ngắm
• John, interpreter of Jesus. John is a good interpreter of the words of Jesus. A good interpreter has to have a two-fold fidelity. Fidelity to the words of the one who speaks, and fidelity to the language of the one who listens. In John’s Gospel, the words of Jesus are not transmitted materially, literally; rather they are translated and transferred to the language of the people of the Christian communities of the first century in Asia Minor. For this reason, the reflections of the Gospel of John are not always easy to understand. Because in them are mixed the words of God and the words of the Evangelist himself who mirrors the language of faith of the communities of Asia Minor. The scholarly or scientific study of Jesus is not sufficient for this. It is also necessary that we have the lived experience of faith in the community. Today’s Gospel is a typical example of the spiritual and mystical depth of the Gospel of the Beloved Disciple.   Tác giả Gioan, thông dịch viên của Chúa Giêsu.  Gioan là một người thông dịch giỏi về những lời của Chúa Giêsu.  Một người thông dịch giỏi phải có tính trung thực gấp đôi.  Trung thực với những lời của người nói, và trung thực với ngôn ngữ của người nghe.  Trong sách Tin Mừng của Gioan, Lời của Chúa Giêsu không nên được truyền tải một cách vật chất, theo nghĩa đen; mà Lời đó phải được phiên dịch và đổi sang ngôn ngữ người dân của các cộng đoàn Kitô hữu vào thế kỷ thứ nhất tại Tiểu Á.  Vì lý do này, các bài suy niệm về Tin Mừng theo thánh Gioan thì không phải lúc nào cũng dễ hiểu.  Bởi vì trong đó được trộn lẫn Lời của Chúa và lời của Thánh Sử, là người phản chiếu ngôn ngữ đức tin của các cộng đoàn tại Tiểu Á.  Khoa học nghiên cứu hay khoa học kỹ thuật về Chúa Giêsu thì chưa đủ thẩm quyền cho việc này.  Cũng cần thiết cho chúng ta có được kinh nghiệm sống về đức tin trong cộng đoàn.  Bài Tin Mừng hôm nay là một ví dụ điển hình của chiều sâu tâm linh và thần bí của Tin Mừng của người Môn Đệ Chúa Yêu.
• Reciprocal enlightenment between life and faith. Here it is well to repeat what John Cassian says regarding the discovery of the full and profound sense of the Psalms: “Instructed by that which we ourselves feel, let us not consider the text as something which we have only heard, but rather like something which we have experienced and which we touch with our hands; not like a strange and unheard of story, but rather like something that we bring out to light from the deepest part of our heart, as if these were sentiments which form part of our being. Let us repeat them; it is not the reading (the study) what makes us penetrate into the sense or meaning of the words, but rather our own experience which has previously been acquired in the life of every day”. (Collationes X, 11). Life enlightens the text, the text enlightens life. If, at times, the text says nothing, it is not because of lack of study or because of lack of prayer, but simply because of lack of depth in one’s own life.   Sự soi sáng đối ứng giữa đời sống và đức tin.  Tại đây tưởng cũng nên lặp lại những gì thánh Gioan Cassian nói về việc khám phá ra ý nghĩa đầy đủ và sâu sắc của các bài Thánh Vịnh:  “Được hướng dẫn bởi những gì chúng ta cảm thấy, chúng ta không xem xét văn bản như là điều gì đó mà chúng ta chỉ nghe, mà như là điều gì đó chúng ta đã trải qua và chúng ta đã chạm tận tay; chúng ta không xem văn bản giống như một câu chuyện xa lạ và chưa bao giờ nghe, mà như là điều gì đó chúng ta đem ra ánh sáng từ phần sâu thẳm nhất của trái tim chúng ta, như thể đây là những tình cảm tạo từ chính con người của chúng ta.  Chúng ta hãy lặp lại chúng; đó không phải là đọc (nghiên cứu) những gì giúp cho chúng ta thẩm thấu vào trong ý thức hay ý nghĩa của các chữ, mà là kinh nghiệm riêng của chúng ta đã có trước, thu thập từ cuộc sống mỗi ngày” (tác phẩm Collationes X:11).  Đời sống soi sáng văn bản, văn bản soi sáng đời sống.  Nếu có những lúc, văn bản không nói gì, đó không phải là vì thiếu học hỏi hoặc vì thiếu cầu nguyện, mà chỉ vì thiếu chiều sâu trong cuộc sống của chính mình.    
• John 31-32: The value of the witness of Jesus. The witness of Jesus is true because he does not promote or exalt himself. “There is another witness who speaks on my behalf”, that is the Father. And his witness is true and deserves to be believed.   Ga 5:31-32:  Giá trị của lời chứng của Chúa Giêsu.  Lời chứng của Chúa Giêsu là sự thật bởi vì Người không quảng bá hoặc đề cao mình.“Có một Đấng khác làm chứng về Ta”, đó là Chúa Cha.  Và lời chứng của Chúa thì xác thực và xứng đáng được tin tưởng.    
• John 5, 33-36: The value of the witness of John the Baptist and of the works of Jesus. John the Baptist also gave witness of Jesus and presents him to the people as the one sent by God who has to come to this world (cf. Jn 1, 29.33-34; 3, 28-34). For this reason, even if the witness of John the Baptist is very important, Jesus does not depend on him. He has a witness in his favour who is greater than the witness of John, and that is, the works which the Father carries out through him (Jn 14, 10-11).   Ga 5:33-36:  Giá trị lời chứng của Gioan Tẩy Giả và các việc làm của Chúa Giêsu.  Gioan Tẩy Giả cũng đã làm chứng về Chúa Giêsu và giới thiệu Chúa đến mọi người như Đấng được Thiên Chúa sai đến thế gian này (xem Ga 1:29, 33-34; 3:28-34).  Vì lý do này, ngay cả khi lời chứng của Gioan Tẩy Giả rất quan trọng, Chúa Giêsu cũng không dựa vào ông.  Chúa có một bằng chứng hơn chứng của Gioan, đó là, các công việc mà Chúa Cha thực hiện qua Người (Ga 14:10-11).
• John 5, 37-38: The Father bears witness of Jesus. Previously, Jesus had said: “Whoever is from God listens to the words of God” (Jn 8, 47). The Jews who accused Jesus did not have a mind open to God. And for this reason, they do not succeed to perceive the witness of the Father which reaches them through Jesus.   Ga 5:37-38:  Chúa Cha làm chứng về Chúa Giêsu.  Trước đây, Chúa Giêsu đã nói rằng:  “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói” (Ga 8:47).  Những người Do Thái cáo buộc Chúa Giêsu thì đã không chịu mở lòng ra với Thiên Chúa.  Và vì vậy, họ không thể cảm nhận được lời chứng của Chúa Cha nói với họ qua Chúa Giêsu.  
• John 5, 39-41: Scripture itself gives testimony of Jesus. The Jews say that they have faith in the Scriptures, but in reality, they do not understand Scripture, because the Scripture speaks of Jesus (cf. Jn 5, 46; 12, 16.41; 20, 9).   Ga 5:39-41:  Sách Thánh làm chứng cho Chúa Giêsu.  Người Do Thái nói rằng họ tin vào Sách Thánh, nhưng trong thực tế, họ không hiểu Kinh Thánh, vì Kinh Thánh nói về Chúa Giêsu (xem Ga 5:46; 12:16,41; 20:9)    
• John 5, 42-47: The Father does not judge but entrusts his judgment to the Son. The Jews say that they are faithful to the Scripture of Moses and, because of this, they condemn Jesus. In reality, Moses and the Scripture speak about Jesus and ask to believe in him.   Ga 5:42-47:  Chúa Cha không xét xử nhưng trao phó việc xét xử cho Chúa Con.  Người Do Thái nói rằng họ tin vào Sách Môisen, và vì lý do này, họ kết án Chúa Giêsu.  Trong thực tế, Môisen và Kinh Thánh viết về Chúa Giêsu và đòi hỏi người ta tin vào Người.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
63.  Witness of the world to come The offering of his own freedom through obedience, the spirit of evangelical poverty and the love which becomes a gift in chastity, make the Salesian a sign of the power of the resurrection. The evangelical counsels, fashioning his heart entirely for the Kingdom, help him to discern and welcome God’s action in history;  in the simplicity and hard work of dally life they transofrm him into an educator who proclaims to the young “new heavens and a new earth”1, awakening in them hope and the dedication and joy to which it gives rise. 63. Chứng tá về thế giới tương lai Việc dâng hiến sự tự do của mình trong vâng phục, tinh thần nghèo khó Tin Mừng và tình yêu được dâng hiến trong thanh khiết biến người Salêdiêng nên dấu biểu lộ sức mạnh của sự sống lại. Trong khi uốn nắn con tim họ nên hoàn toàn cho Nước Trời, các Lời Khuyên Phúc Âm giúp người Salêdiêng biện phân và đón nhận hành động của Thiên Chúa trong lịch sử; trong sự giản dị và lao nhọc của cuộc sống hằng ngày, các lời khuyên ấy biến đổi người Salêdiêng thành nhà giáo dục loan báo “trời mới đất mới” cho thanh thiếu niên, thức tỉnh nơi các em những nỗ lực dấn thân và niềm vui của đức cậy.
5) Personal questions 5) Câu hỏi cá nhân
• Life enlightens the text and the text enlightens life. Have you experienced this some times?   Đời sống soi sáng văn bản và văn bản soi sáng đời sống.  Bạn đã có kinh nghiệm này lần nào chưa?
• Try to deepen the value of the testimony of Jesus. –  Bạn hãy cố gắng làm sâu sắc thêm giá trị lời chứng của Chúa Giêsu.
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
Yahweh, your kingship is a kingship for ever, your reign lasts from age to age. Yahweh is trustworthy in all his words, and upright in all his deeds. Yahweh supports all who stumble, lifts up those who are bowed down. (Ps 145,13-14) Triều đại Ngài:  thiên niên vĩnh cửu, Vương quyền Ngài vạn đại trường tồn. Triều đại Ngài:  thiên niên vĩnh cửu, Vương quyền Ngài vạn đại trường tồn. Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán,Đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. Ai quỵ ngã, CHÚA đều nâng dậy, Kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên. (Tv 145:13-14)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina
http://www.dongcatminh.org/calendar-date

GB. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa