LECTIO DIVINA THỨ NĂM TUẦN THÁNH

LECTIO DIVINA THỨ NĂM TUẦN THÁNH

NGÀY 09-04-2020 : Ga 13, 1-15

“He loved those who were his in the world, and loved them to the end”

Người yêu thương những kẻ thuộc về mình và yêu thương họ đến cùng

1. LECTIO 1. LECTIO
a) Initial Prayer a)  Lời nguyện mở đầu
“When you speak, Lord, the nothingness beats in life: the dry bones become living persons, the desert flourishes… When I get ready to pray I feel dry, I do not know what to say. Evidently, I am not in harmony with your will, my lips are not in tune with my heart, my heart does not make an effort to get in tune with yours. Renew my heart, purify my lips so that I can speak with you as you want me to do it, so that I can speak with others as you wish, so that I can speak with myself, with my interior world, as you wish”. (L. Renna).

 “Lạy Chúa, khi Chúa phán, hư không trở nên sinh động:  bụi tro trở thành người sống, hoang địa trở nên vùng trù phú…  Khi con chuẩn bị để cầu nguyện, con cảm thấy khô khan, con không biết phải nói gì.  Thật rõ ràng, con không ở trong sự hòa hợp với ý của Chúa, môi miệng con không đồng giai điệu với tâm hồn con, trái tim con không nỗ lực để được đồng điệu với trái tim Chúa.  Xin Chúa hãy đổi mới trái tim con, xin hãy thanh tẩy miệng lưỡi con để con có thể thưa chuyện với Chúa như Chúa muốn con làm điều ấy, để con có thể nói với những người khác như Chúa muốn, để con có thể nói với chính mình, với nội tâm của con, như Chúa muốn.” (L. Renna)

b) The Reading of the Gospel b)  Bài đọc Tin Mừng
1 Before the festival of the Passover, Jesus, knowing that his hour had come to pass from this world to the Father, having loved those who were his in the world, loved them to the end. 2 They were at supper, and the devil had already put it into the mind of Judas Iscariot son of Simon, to betray him. 3 Jesus knew that the Father had put everything into his hands, and that he had come from God and was returning to God, 4 and he got up from table, removed his outer garments and, taking a towel, wrapped it round his waist; 5 he then poured water into a basin and began to wash the disciples’ feet and to wipe them with the towel he was wearing. 6 He came to Simon Peter, who said to him, ‘Lord, are you going to wash my feet?’ 7 Jesus answered, ‘At the moment you do not know what I am doing, but later you will understand.’ 8 ‘Never!’ said Peter. ‘You shall never wash my feet.’ Jesus replied, ‘If I do not wash you, you can have no share with me.’ Simon Peter said, 9 ‘Well then, Lord, not only my feet, but my hands and my head as well!’ 10 Jesus said, ‘No one who has had a bath needs washing, such a person is clean all over. You too are clean, though not all of you are.’ 11 He knew who was going to betray him, and that was why he said, ‘though not all of you are’. 12 When he had washed their feet and put on his outer garments again he went back to the table. ‘Do you understand’, he said, ‘what I have done to you? 13 You call me Master and Lord, and rightly; so I am. 14 If I, then, the Lord and Master, have washed your feet, you must wash each other’s feet. 15 I have given you an example so that you may copy what I have done to you.

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giêsu đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phêrô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giêsu bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phêrô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giêsu nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”. Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”. Ðó là lời Chúa.

 

c) Moments of prayerful silence c)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện
In a loving listening, words are not necessary, because silence also speaks and communicates love.

Trong lắng nghe yêu thương, lời nói không cần thiết, bởi vì sự im lặng cũng là cách nói và thông tri về tình yêu.

2. MEDITATIO 2.  Suy gẫm Lời Chúa – Meditatio  
a) Preamble to the Passover of Jesus a)  Lời mở đầu Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu
The passage of the Gospel of today is inserted in a literary whole which includes chapters 13-17. At the beginning we have the account of the Last Supper which Jesus shares with his disciples, during which he fulfils the gesture of the washing of the feet (13, 1-30). Then Jesus interweaves a long dialogue of farewell with his disciples (13, 31 – 14, 31). Chapters 15-17 have the function to deepen further the previous discourse of the Master. Immediately, after this, Jesus is arrested (18, 1-11). In any case, these events narrated in 13, 17,26 are joined already in 13, 1 with the Passover of Jesus. It is interesting to note this last annotation: from 12, 1 the Passover is no longer called the Passover of the Jews, but of Jesus. From now on, it is He, the Lamb of God who will liberate man from sin. The Passover of Jesus is one that aims to liberate man: a new exodus which permits to go from darkness to light (8, 12), and which will bear life and feast in humanity (7, 37).

Đoạn Tin Mừng hôm nay được lồng trong toàn bộ bản văn bao gồm các chương 13 đến chương 17.  Vào lúc đầu, chúng ta có khung cảnh của Bữa Tiệc Ly nơi Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ, trong đó Người đã hoàn thành cử chỉ rửa chân (Ga 13:1-30).  Sau đó, Chúa Giêsu xen đan một cuộc đối thoại dài chia tay với các môn đệ (Ga 13:31 – 14:31).  Các chương 15-17 có nhiệm vụ bổ túc sâu xa cho bài giảng của Chúa trước đó.  Ngay sau đó, Chúa Giêsu bị bắt giữ (Ga 18:1-11).  Dù sao chăng nữa, những sự việc được thuật lại trong các câu 13:17-26 được nối kết với câu 13:1 với Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu.  Thật là thú vị khi chúng ta để ý đến lời chú thích cuối cùng này:  từ câu 12:1 Lễ Vượt Qua không còn được gọi là lễ Vượt Qua của người Do Thái, mà là của Chúa Giêsu.  Từ bây giờ, Người, Chiên Thiên Chúa, là Đấng sẽ giải thoát con người khỏi tội lỗi.  Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu là việc có mục đích giải thoát loài người: một cuộc xuất hành mới cho phép đi từ bóng tối đến ánh sáng (Ga 8:12), và sẽ ban sự sống và lễ hội trong nhân loại (Ga 7:37).

Jesus is aware that he is about to conclude his journey toward the Father and, therefore he is about to bring to an end his personal and definitive exodus. Such a passage, going to the Father, takes place through the Cross, the central moment in which Jesus will surrender his life for the good of man.

Chúa Giêsu biết rằng Người sắp sửa kết thúc cuộc hành trình của mình về cùng Chúa Cha và, vì thế Người sắp sửa kết thúc cuộc vượt qua dứt khoát và riêng tư của Người.  Một sự ra đi như thế, về cùng Chúa Cha, xảy ra qua cây Thập Giá, thời điểm chính trong đó Chúa Giêsu sẽ thí mạng sống của Người vì lợi ích của nhân loại.  

It strikes the reader when he becomes aware how the Evangelist John knows how to present the person of Jesus well, while he is aware of the last events of his life and therefore, of his mission. So as to affirm that Jesus is not crushed or overcome by the events which threaten his life, but that he is ready to give his life. Before, the Evangelist has remarked that his hour had not arrived; but now in the account of the washing of the feet he says that he is aware that his hour is close at hand. Such a conscience is at the basis of the expression of John: “After having loved those who were his in the world, he loved them to the end” (v. 1). Love for “his own”, for those who form the new community, has been evident while he was with them, but it will shine in an eminent way in his death. Jesus shows such a love in the gesture of the washing of the feet, which in its symbolical value, shows the continuous love which is expressed in service.

Nó đánh động người đọc khi nhận thức được phương cách Thánh Sử Gioan giới thiệu con người Chúa Giêsu thật rõ ràng, trong khi Chúa nhận thức được về những sự kiện cuối cùng trong đời của Chúa, và do đó, về sứ vụ của Người.  Vì vậy, để khẳng định rằng Chúa Giêsu không hề bị ngã lòng hoặc bị chế ngự bởi các sự kiện đe dọa mạng sống của mình, mà trái lại Chúa sẵn sàng dâng hiến mạng sống mình.  Trước đó, Thánh Sử đã cho thấy rằng giờ của Chúa chưa đến; nhưng bây giờ trong việc rửa chân cho các môn đệ, Chúa nói Người biết rằng giờ của Người đã gần kề.  Một nhận thức như thế là căn bản sự diễn đạt của thánh Gioan:  “Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng” (câu 1).  Tình yêu dành cho “những kẻ thuộc về Người”, cho những ai hình thành cộng đoàn mới, đã được hiển nhiên trong khi Người đang sống với họ, nhưng nó sẽ tỏa sáng một cách cao độ trong cái chết của Người.  Chúa Giêsu biểu lộ tình yêu qua cử chỉ rửa chân, trong đó có giá trị biểu trưng của nó, cho thấy một tình yêu liên tục được thể hiện qua sự phục vụ. 

b) The washing of the feet b) Việc rửa chân
Jesus is at an ordinary supper with his disciples. He is fully conscious of the mission which the Father has entrusted to him: the salvation of humanity depends on him. With such an awareness he wishes to show “to his own”, through the washing of the feet, how the work of salvation of the Father is fulfilled and to indicate in such a gesture the surrender of his life for the salvation of man. It is the will of Jesus that man be saved, and a longing desire leads him to give up his life and to surrender. He is aware that the Father gives Jesus complete freedom of action.

Chúa Giêsu tại một bữa ăn tối thông thường với các môn đệ của mình.  Người hoàn toàn ý thức về sứ vụ mà Chúa Cha trao phó cho Người: Việc cứu rỗi nhân loại tùy thuộc vào Người.  Với một nhận thức như vậy, Chúa muốn chỉ bảo cho “những kẻ thuộc về Người”, qua việc rửa chân, cách mà công cuộc cứu độ của Chúa Cha được thực hiện và để cho biết trong cử chỉ như là một sự dâng mạng sống của mình cho sự cứu rỗi nhân loại.  Ý muốn của Chúa Giêsu là loài người phải được cứu rỗi, và sự mong muốn khát khao khiến Người từ bỏ mạng sống của mình và dâng hiến. Chúa Giêsu nhận thức được rằng Chúa Cha cho phép Người hoàn toàn tự do hành động.

Besides, Jesus knows that his true provenance and the goal of his itinerary is God; he knows that his death on the Cross, the maximum expression of his love, is the last moment of his journey of salvation. His death is an “exodus”; it is the climax of his victory over death, in his surrender (giving his life) Jesus reveals to us the presence of God as the fullness of life and exemption from death.

Ngoài ra, Chúa Giêsu biết rằng nguồn gốc và mục tiêu thật cho cuộc hành trình của Người là Thiên Chúa; Chúa biết rằng cái chết của mình trên Thập Giá, sự biểu lộ tối đa tình yêu của Người, là giây phút cuối cùng cuộc hành trình cứu độ của mình.  Cái chết của Chúa là một “cuộc ra đi”; đó là mức tột đỉnh chiến thắng sự chết của Người.  Trong việc dâng hiến mạng sống của mình, Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta sự hiện diện của Thiên Chúa như sự viên mãn của cuộc sống và khỏi phải hư mất.

With this full consciousness of his identity and of his complete liberty Jesus is prepared to fulfil the great and humble gesture of the washing of the feet. Such a gesture of love is described with a great number of verbs (eight) which render the scene absorbing, enthralling and full of significance. The Evangelist in presenting the last action of Jesus toward his own, uses this rhetorical figure of the accumulation of verbs without repeating himself in order that such a gesture remains impressed in the heart and mind of his disciples and of every reader and in order that a commandment may always be remembered, not forgotten. The gesture fulfilled by Jesus intends to show that true love is expressed in tangible actions of service. Jesus despoils himself of his garments and ties around his waist a towel or apron, symbol of service. More precisely, Jesus takes off his garments is an expression which expresses the significance of the gift of life. Which is the teaching which Jesus transmits to his disciples through this gesture? He shows them that love is expressed in service, in giving one’s life for others as he has done.

Với ý thức đầy đủ về căn tính và sự tự do hoàn toàn của mình, Chúa Giêsu sẵn sàng thực hiện cử chỉ tuyệt vời và khiêm nhường là rửa chân.  Một cử chỉ của tình yêu như thế được diễn tả với rất nhiều động từ (tám) làm cho cảnh trở nên mê hoặc và tràn đầy ý nghĩa.  Tác giả Phúc Âm trong việc trình bày cử chỉ cuối cùng của Chúa Giêsu đối với những kẻ thuộc về Người, dùng con số hùng biện này của các động từ tích tụ mà không lặp đi lặp lại để một cử chỉ như vậy còn mãi sâu đậm trong tâm trí các môn đệ và mỗi người đọc và để cho một điều răn mãi luôn được ghi nhớ, không bao giờ bị quên lãng.  Cử chỉ được Chúa Giêsu thể hiện có ý định cho thấy rằng tình yêu thật sự được biểu lộ qua các hành động phục vụ cụ thể.  Chúa Giêsu tự cởi áo và cột ngang thắt lưng một cái khăn hoặc tạp dề, biểu tượng của sự phục dịch.  Một cách chính xác hơn, Chúa Giêsu cởi áo của Người là một cách diễn tả ý nghĩa trọng đại của quà tặng mạng sống.  Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ điều giảng dạy gì qua cử chỉ này?  Chúa cho họ thấy rằng tình yêu được bày tỏ qua việc phục vụ, trong việc dâng hiến mạng sống mình cho người khác như Chúa đã làm. 

At the time of Jesus the washing of the feet was a gesture which expressed hospitality and welcome towards the guests. In an ordinary way it was done by a slave or also by the wife, concerning the wife and also the daughters toward their father. Besides, it was the custom that such a rite of the washing of the feet should be done before they sat at table and not during the meal. Such an insertion of Jesus’ action intends to stress or underline how singular or significant his gesture was.

Vào thời Chúa Giêsu, việc rửa chân được xem như là một cử chỉ biểu lộ lòng hiếu khách và sự chào mừng đối với các người khách.  Thông thường, việc này được làm bởi một người nô lệ hoặc bởi người vợ, coi như công việc của người vợ và cũng như của con gái đối với cha của họ.  Bên cạnh đó, theo tục lệ nghi thức rửa chân phải được thực hiện trước khi ngồi vào bàn ăn chứ không phải đang trong bữa ăn. Việc gài vào hành động của Chúa Giêsu như thế có ý nhấn mạnh đến hành động của Chúa rất đặc thù hoặc có ý nghĩa là dường bao.

And thus, Jesus gets down to wash the feet of his disciples. The repeated use of the apron which Jesus tied around his waist underlines the attitude of service which is a permanent attribute of the person of Jesus. In fact, when he will have finished the washing of the feet, Jesus does not take off the towel which he used as an apron. Such a detail intends to underline that the service-love does not end with his death. This minute detail shows the intention of the Evangelist to wish to underline the significance and importance of the gesture of Jesus. By washing the feet of his disciples Jesus intends to show them his love, which is one with that of the Father (10, 30.38). This image with which Jesus reveals God is really shocking: he is not a Sovereign who resides exclusively in Heaven, but he presents himself as the servant of humanity in order to raise it to the divine level. From this divine service flows, for the community of believers, that liberty which comes from the love which renders all its members as “lords” (free) because they are servants. It is like saying that only liberty creates the true love. From now on, service which the believers will render to man will have as its purpose that of restoring the relationship among men in whom equality and liberty are a consequence of the practice of reciprocal service. Jesus, with his gesture intends to show that any domination o tentative to prevail over man is contrary to the attitude of God who, instead, serves man to raise him to himself. Besides, the pretensions of superiority of one man over another, no longer have any sense, because the community founded by Jesus does not have any pyramidal characteristics, but horizontal dimensions, In which each one is at the service of others, following the example of God and of Jesus.

Và vì thế, Chúa Giêsu quỳ xuống để rửa chân cho các môn đệ của Người.  Việc dùng đi dùng lại cái khăn mà Chúa Giêsu thắt ngang lưng nhấn mạnh đến thái độ của việc phục vụ là một nhân cách thường trực của Chúa Giêsu. Trong thực tế, sau khi làm xong việc rửa chân, Chúa Giêsu sẽ không cởi bỏ cái khăn mà Người đã dùng nó như cái tạp dề.  Một chi tiết như thế có ý muốn nhấn mạnh rằng tình-yêu-phục-vụ không kết thúc với cái chết của Người.  Chi tiết nhỏ nhặt này cho thấy chủ đích của Tác Giả Phúc Âm muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa và tầm quan trọng của cử chỉ của Chúa Giêsu.  Bằng vào việc rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu có ý cho các ông thấy tình yêu của Người, mà đó cũng là tình yêu của Chúa Cha (Ga 10:30-38).  Hình ảnh Đức Giêsu mặc khải về Thiên Chúa thì thực sự gây chấn động:  Người không là Đấng Tối Cao độc quyền ngự trị trên Thiên Đàng, nhưng Chúa cho thấy Người như là một tôi tớ của nhân loại để nâng cao nó lên đến mức thiêng liêng.  Từ nguồn phục vụ thiêng liêng này tuôn chảy, cho cộng đoàn tín hữu, rằng sự tự do xuất phát từ tình yêu dâng hiến cho tất cả các thành viên của nó như “các chúa” (tự do) bởi vì họ là những tôi tớ.  Nó cũng giống như nói rằng chỉ có sự tự do mới tạo nên tình yêu đích thực.  Từ bây giờ, sự phục vụ mà các tín hữu sẽ làm cho loài người sẽ có mục đích là phục hồi lại mối quan hệ giữa loài người trong đó sự bình đẳng và tự do là một hệ quả của việc thực thi việc phục vụ đáp trả.  Đức Giêsu, với cử chỉ của Người có mục đích cho thấy rằng bất kỳ sự thống trị hoặc dự định áp đặt lên con người thì trái với thái độ của Thiên Chúa là Đấng thay vào đó lại phục vụ loài người để nâng họ lên bằng với mình.  Bên cạnh đó, các kỳ vọng của sự vượt trội của một người hơn một người khác không còn có bất kỳ một ý nghĩa nào, bởi vì cộng đoàn được thành lập bởi Chúa Giêsu không có bất kỳ đặc điểm của hình kim tự tháp, nhưng có những kích thước hàng ngang, trong đó mỗi người là để phục vụ cho những người khác, noi theo gương của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu.

In synthesis, the gesture which Jesus fulfilled expresses the following values: the love toward the brothers demands to be expressed in fraternal acceptance, hospitality, that is, in permanent service.

Một cách tổng hợp, cử chỉ mà Chúa Giêsu đã làm nói lên các giá trị sau đây:  tình yêu đối với anh em đòi hỏi phải được thể hiện trong sự chấp nhận huynh đệ, hiếu khách, đó là, trong sự phục vụ trường cửu.

c) Peter’s Resistance c)  Sự phản kháng của Phêrô
The reaction of Peter before the gesture of Jesus is expressed in attitudes of surprise and protest. There is also a change in the way in which he related to Jesus: Peter calls him “Lord” (13, 6). In such a title Jesus is recognized as having a level of superiority which is in conflict with the “washing” of the feet, an action which belongs, instead, to an inferior subject. The protest is expressed energetically by the words: “Are you going to wash my feet?” In Peter’s eyes this humiliating gesture of the washing of the feet seemed to him as an inversion of values which regulate the relationship between Jesus and men: the first one is the Master, Peter is a subject. Peter disapproves the equality which Jesus wants to create among men.

Phản ứng của ông Phêrô trước cử chỉ của Chúa Giêsu được thể hiện trong thái độ ngạc nhiên và phản đối.  Ngoài ra còn có một thay đổi trong cách ông liên hệ với Đức Giêsu:  Phêrô gọi Người là “Chúa” (Ga 13:6).  Trong một danh hiệu như thế, Chúa Giêsu được công nhận là ở vị trí ưu việt hơn, thay vào đó, lại mâu thuẫn với việc “rửa chân”, đó là một hành động của một kẻ kém cỏi hơn.  Sự phản đối được thể hiện một cách mạnh mẽ bởi những lời:  “Lạy Thầy, Thầy muốn rửa chân cho con sao?”  Trong mắt của Phêrô cử chỉ rửa chân thấp hèn này đối với ông dường như là một sự đảo ngược những giá trị quy định mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và loài người:  Chúa là Thầy, còn Phêrô là phàm nhân lệ thuộc vào Chúa.  Phêrô không chấp nhận sự bình đẳng mà Chúa Giêsu muốn tạo ra giữa loài người với nhau.

To such misunderstanding Jesus responds inviting Peter to accept the sense of washing his feet as a witness of his love toward him. More precisely, he wants to offer him a concrete proof of how he and the Father love him.

Để trả lời cho việc hiểu lầm như thế, Chúa Giêsu mời gọi Phêrô chấp nhận ý nghĩa việc Chúa rửa chân cho ông như là một bằng chứng cho tình yêu của Người đối với ông.  Một cách chính xác hơn, Đức Giêsu muốn ban cho ông một bằng chứng cụ thể rằng Người và Chúa Cha yêu mến ông như thế nào.

But Peter in his reaction does not give in: he categorically refuses that Jesus should get down at his feet. According to Peter each one should carry out his own role, it is not possible to have a community or a society based on equality. It is not acceptable that Jesus abandons his position of superiority to render himself equal to his disciples. Such an idea of the Master disorientates Peter and leads him to protest. Not accepting the service of love of his Master, he neither accepts that he dies on the cross for him (12, 34; 13, 37). It is as to say that Peter is far away from understanding what is true love, and such an obstacle is an impediment so that Jesus can show it to him by his action.

Nhưng trong phản ứng của Phêrô, ông vẫn chưa muốn chịu thua:  ông nhất quyết từ chối để cho Chúa Giêsu quỳ xuống rửa chân cho ông.  Theo Phêrô, mỗi một người cần phải làm theo vai trò của mình, một cộng đoàn hay một xã hội dựa trên sự bình đẳng là một việc không thể có.  Việc Chúa Giêsu từ bỏ ngôi vị cao quý của mình để hạ mình xuống ngang hàng với các môn đệ là điều không thể chấp nhận được.  Ý tưởng về một vị Thầy như thế làm Phêrô rối trí và đưa đến việc phản đối.  Không chấp nhận sự phục vụ vì tình yêu mến của Thầy mình, thì ông cũng không chấp nhận rằng Chúa chết trên thập giá cho ông (Ga 12:34; 13:37).  Có thể nói rằng Phêrô vẫn còn xa vời với sự hiểu biết về tình yêu đích thực là gì, và với một chướng ngại như thế là sự ngăn trở để Chúa Giêsu có thể chỉ cho ông thấy hành động của Người.

In the mean time, if Peter is not ready to share the dynamics of love which manifests itself in reciprocal service he cannot share the friendship with Jesus and runs the risk, truly, to exclude himself.

Cùng vào lúc ấy, nếu Phêrô chưa sẵn sàng để chia sẻ những động lực của tình yêu được thể hiện trong việc phục vụ lẫn nhau, thì ông cũng không thể chia sẻ tình bạn với Chúa Giêsu và thực sự chấp nhận nguy hiểm để từ bỏ chính mình.

Following the admonition of Jesus “If I do not wash you, you can have no share with me” (v. 8), Peter adheres to the threatening words of the Master, but without accepting the profound sense of the action of Jesus. He shows himself open, ready to let Jesus wash his feet, not only the feet, but also his hands and head. It seems that it is easier for Peter to accept Jesus’ gesture as an action of purification or ablution rather than as a service. But Jesus responds that the disciples have become pure (“clean”) at the moment when they accepted to allow themselves to be guided by the Word of the Master, rejecting that of the world. Peter and the disciples no longer need the Jewish rite of the purification but to allow themselves to have their feet washed by Jesus; or rather to allow themselves to be loved by him, conferring them dignity and liberty.

Nghe theo lời khuyên dạy của Chúa Giêsu:  “Nếu Thầy không rửa chân cho con, thì con sẽ không được dự phần với Thầy” (câu 8), Phêrô tuân theo những lời răn đe của Thầy, nhưng không chấp nhận ý nghĩa sâu xa việc làm của Chúa Giêsu.  Ông cho thấy đã cởi mở hơn, sẵn sàng để Chúa rửa chân cho mình, nhưng không chỉ là chân, mà còn cả tay và đầu nữa.  Có vẻ như là Phêrô dễ dàng chấp nhận cử chỉ của Chúa Giêsu như là một hành động để thanh tẩy hoặc rửa tội hơn là một sự phục vụ.  Nhưng Chúa Giêsu trả lời rằng các môn đệ đã trở nên tinh khiết (“sạch”) vào lúc họ đã chấp nhận để cho họ được hướng dẫn bởi Lời của Chúa, từ bỏ những gì thuộc về thế gian.  Phêrô và các môn đệ không còn cần đến nghi thức thanh tẩy của người Do Thái nhưng bằng lòng để cho chân của họ được rửa bởi Chúa Giêsu; hay nói đúng hơn là cho phép mình được Chúa yêu thương, ban cho họ phẩm giá và sự tự do.

d) The Memorial of Love d)  Kỷ niệm Tình yêu
At the end of the washing of the feet Jesus intends to give his action a permanent validity for his community and at the same time to leave to it a memorial or commandment which should always regulate the fraternal relationships.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu có ý định để cho hành động của mình có một giá trị lâu dài cho cộng đoàn của mình và đồng thời để lại đó một kỷ niệm hay một giới răn là phải luôn giữ đúng mối quan hệ anh em.

Jesus is the Lord, not in the dimension of domination, but in so far as he communicates the love of the Father (his Spirit) which makes us children of God and qualified to imitate Jesus who freely gives his love to his own. Jesus intended to communicate such an interior attitude to his own, a love which does not exclude anyone, not even Judas who is about to betray him. Therefore, if the disciples call him Lord, they have to imitate him; if they consider him Master, they have to listen to him.

Đức Giêsu là Chúa, không phải trong chiều hướng thống trị, mà là trong chiều hướng Người truyền đạt tình yêu của Chúa Cha (Thần Khí của Người) để cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa và đủ điều kiện trở nên giống Chúa Giêsu là Đấng tự do trao ban tình yêu của Người cho những kẻ thuộc về mình.  Chúa Giêsu đã có ý truyền đạt một tâm tình như thế cho những kẻ thuộc về Người, một tình yêu không loại trừ bất cứ ai, ngay cả Giuđa là kẻ sắp sửa phản bội Người.  Do đó, nếu các môn đệ gọi Người là Chúa, thì họ phải bắt chước giống như Người; nếu các ông coi Người là Thầy là Chúa, thì họ phải nghe lời Người.

e) Some question to meditate on e)  Một vài câu hỏi gợi ý cho việc suy gẫm
– he got up from the table: How do you live the Eucharist? In a sedentary way or do you allow yourself to be moved to action by the fire of the love which you receive? Do you run the risk that the Eucharist in which you participate is lost in contemplative Narcissism, without leading to the commitment of solidarity and sharing? Your commitment in favour of justice, of the poor, does it come from the habit of encountering Christ in the Eucharist, from the familiarity with him?

–  Người chỗi dậy từ bàn ăn:  Bạn sống Bí Tích Thánh Thể như thế nào?   Bạn có cho phép mình được cảm động bởi tác động của lửa tình yêu mà bạn nhận được không hay bạn chỉ ngồi thụ động?  Bạn có phải đối diện với nguy cơ rằng Bí Tích Thánh Thể, trong đó bạn tham gia, bị lạc mất trong sự chiêm niệm Ái Kỷ, mà không dẫn đến sự cam kết của tình đoàn kết và chia sẻ không?  Sự dấn thân của bạn cho công lý, cho người nghèo khó, có sẽ đến từ đức tính gặp gỡ Chúa Kitô trong Thánh Thể, từ sự quen thuộc với Người không?

– he removed his outer garments: when from the Eucharist you go to daily life, do you know how to remove the garments of your own benefit, your calculations, personal interests to allow yourself to be guided by an authentic love toward others?

–  Người cởi áo khác ngoài:  từ Bí Tích Thánh Thể, đi vào đời sống hằng ngày, bạn có biết cách để loại bỏ cái áo khoác lợi ích cho riêng bạn, các toan tính của bạn, các quyền lợi riêng tư của bạn để cho phép bản thân mình được hướng dẫn bởi một tình yêu chân chính đối với tha nhân không? 

Or rather, after the Eucharist you are not capable of removing your garments of domination and of arrogance to put on those of simplicity, of poverty?

Hay là, sau khi chịu phép Thánh Thể bạn không có khả năng rũ bỏ cái áo khoác áp đặt và kiêu căng để khoác lên mình một cái áo khoác của đơn sơ, của khó nghèo không?

– taking a towel he wrapped it around his waist: this is the image of the “Church of the apron”. In the life of your family, of your ecclesial community, do you walk on the street of service, of sharing? Are you directly involved in the service to the poor and to the least? Do you know how to see the face of Christ who asks to be served, loved in the poor?

–  Người lấy khăn và thắt ngang lưng:  đây là hình ảnh của “Giáo Hội của tạp dề”.  Trong đời sống của gia đình bạn, của cộng đoàn giáo hữu của bạn, bạn có đi trên con đường của phục vụ, chia sẻ không?  Bạn có trực tiếp tham gia trong việc phục vụ người nghèo khổ và bé mọn không?  Bạn có biết cách để nhìn thấy khuôn mặt của Đức Kitô đang trông chờ được phục vụ, yêu thương trong những người nghèo khó không?

3. SALESIAN CONSTITUTIONS 3. HIẾN LUẬT SALÊDIÊNG
88.  The community made one by the Eucharist

The hearing of the Word finds its privileged place in the celebration of the Eucharist.  This is the central act of every Salesian community:  it is a dally festive celebration in a living liturgy.

There the community celebrates the paschal mystery and unites itself to the immolated body of Christ, which it receives so as to build itself in him into a fraternal communion and renew its apostolic commitment.

Concelebration stresses the richness of this mystery:  it epxresses the triple unity of sacrifice, priesthood and community, a community whose members are all at the service of the same mission.

For us sons of Don bosco the eucharistic presence in our houses is a reason for frequent encounters with Christ.  From him we draw energy and endurance in our work for the young.

88. Cộng thể hiệp nhất trong Thánh Thể

Việc cử hành Thánh Thể là nơi lý tưởng nhất để lắng nghe Lời Chúa. Việc cử hành này là hành vi trung tâm hằng ngày của mỗi cộng thể Salêdiêng, được sống trong niềm hân hoan của một phụng vụ sống động.

Trong Thánh Thể, cộng thể cử hành mầu nhiệm Vượt qua và thông phần vào Thân Thể Đức Kitô được hiến tế, nhờ rước lấy Ngài. Chính trong Ngài cộng thể xây dựng chính mình thành sự hiệp thông huynh đệ và canh tân việc dấn thân tông đồ của mình.

Việc đồng tế làm nổi bật sự phong phú của mầu nhiệm này: diễn tả được sự duy nhất của hy tế, của chức tư tế và của cộng thể, trong đó mọi phần tử đều phục vụ cho cùng một sứ mệnh.

Đối với chúng ta, con cái Don Bosco, sự hiện diện của Thánh Thể trong các nhà chúng ta là động lực thôi thúc chúng ta năng gặp gỡ Đức Kitô. Từ nơi Ngài chúng ta kín múc năng động lực và sức kiên trì trong hoạt động của chúng ta cho thanh thiếu niên.

4. ORATIO 4.  Cầu Nguyện – Oratio
a) Psalm 116 (114-115), 12-13; 15-16; 17-18 a)  Thánh Vịnh 116 (114-115): 12-13; 15-16; 17-18
The Psalmist who finds himself in the time and in the presence of the liturgical assembly sings his sacrifice of thanksgiving. Voltaire who had a special predilection for v. 12 expressed himself as follows: “What can I offer to the Lord for all the gifts which he has given me?” What return can I make to Yahweh for his generosity to me? I shall take up the cup of salvation and call on the name of Yahweh. Costly in Yahweh’s sight is the death of his faithful. I beg you, Yahweh! I am your servant, I am your servant and my mother was your servant; you have undone my fetters. I shall offer you a sacrifice of thanksgiving and call on the name of Yahweh. I shall fulfil my vows to Yahweh, witnessed by all his people

Tác giả Thánh Vịnh đã tìm thấy chính mình trong thời gian và trong sự hiện diện của cộng đoàn phụng vụ hát lên lời tạ ơn hy lễ của mình.  Voltaire là người có một thị hiếu đặc biệt cho câu 12 đã phát biểu như sau:  “Tôi có thể dâng lên Chúa được những gì để cho xứng với tất cả mọi ân sủng mà Người đã dành cho tôi?” Con lấy gì dâng lại cho Chúa để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con? Con sẽ lãnh chén cứu độ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. Trước mặt Chúa thật là quý hóa cái chết của những bậc thánh nhân Ngài. Con nài van Chúa, lạy Chúa! Con là tôi tớ Ngài, Con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tì Ngài; Ngài đã bẻ gãy xiềng xích cho con. Con sẽ hiến dâng lời ca ngợi làm hy lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mắt toàn thể dân Ngài.

b) Final Prayer b)  Lời nguyện kết
Fascinated with the way in which God expressed his love toward his own, Origin prayed as follows: Jesus, come, my feet are dirty. Become a servant for me, pour the water in the basin; come, wash my feet. I know it, what I am saying is daring, but I fear the threat of your words: “If I do not wash you, you can have no share with me”. Wash then my feet, so that I may have a share with you. (Homily 5 on Isaiah)

Bị mê hoặc với cách mà Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người với những kẻ thuộc về mình, lời cầu nguyện khởi nguyên như sau: Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, chân con đang bẩn. Xin hãy trở thành một người hầu của con, hãy đổ nước vào chậu; Xin hãy đến, rửa chân cho con. Con biết chứ, những gì con đang nói đây thì thật là táo bạo, nhưng con sợ sự răn đe từ những lời của Chúa: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy.” Vậy thì Chúa hãy rửa chân con đi, để con có thể được dự phần cùng Chúa. (Bài giảng 5 về Isaia)

And Saint Ambrose having an ardent desire to correspond to the love of Jesus, expresses himself as follows: Oh, my Lord Jesus, allow me to wash your sacred feet; you got them dirty when you walked in my soul… But where will I take the water from the fountain to wash your feet? In lacking that I only have the eyes to weep: bathing your feet with my tears, do in such a way that I myself remain purified. (Treatise on penance).

Và thánh Ambrose có một mong muốn mãnh liệt để được tương xứng với tình yêu của Chúa Giêsu, đã thố lộ như sau: Ôi, lạy Chúa Giêsu của con, xin hãy để cho con rửa đôi chân thiêng liêng của Chúa; chân Chúa đã lấm bẩn khi Ngài bước vào tâm hồn con… Nhưng con sẽ phải lấy nước từ giếng nước nào để rửa chân cho Chúa đây? Trong sự thiếu thốn đó con chỉ có đôi mắt để khóc: rửa chân Chúa bằng nước mắt của con, chỉ có làm như thế thì bản thân con mới có thể trở nên tinh sạch. (Luận về việc đền tội)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

  1. Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

 

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa

Chúa nhật lễ Hiện xuống
LỄ HIỆN XUỐNG
CON CÓ YÊU MẾN THẦY?
GIỜ TÔN VINH
HƯỚNG MẮT VỀ TRỜI
ANH EM PHẢI CANH THỨC