NGÀY 11 THÁNG 7: THÁNH BIỂN ĐỨC, VIỆN PHỤ

Thánh BÊNÊĐICTÔ (480?-543)

Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB

    Trong thế giới ngày nay, chúng ta làm gì cũng mau vội: nói nhanh, du lịch nhanh, đồ ăn nhanh, cầu nguyện nhanh. Chúng ta lần hạt thật nhanh, cho sớm xong, thay vì say sưa cảm nếm từng chữ trong lời kinh.  Chúng ta muốn đọc thật nhanh cho xong một đoạn Kinh Thánh, thay vì chú tâm tới tiến trình tuần tự trong lối đọc, khi mỗi lời Kinh Thánh là tiếng nói của Thiên Chúa và có một sức mạnh riêng của nó. Thánh Bênêđíctô hiểu rõ thứ quyền lực đó của Lời Chúa, và biết để cho Lới Chúa hoạt động nơi thâm sâu của mình.

    Ngài sinh trong một gia đình lỗi lạc ở Nursia, thuộc miền trung nước Ý, ngài hoàn  tất việc học hành của mình tại Rôma, với một người bảo mẫu đi theo. Ngài học nghệ thuật hùnhg biện, ít chú trọng tới chất lượng của lời nói, mà chú trọng nhiều tới khoa hoa mỹ trong cách ăn nói. Các sinh viên theo học có tất cả mọi thứ: Sự giáo dục, sự giàu có, tuổi trẻ; và họ tiêu xài mọi thứ để mua lạc thú thay vì Chân lý. Bênêditô quan sát một cách kinh hãi trước cảnh tật xấu đang lộ rõ trong đời sống và nền luân lý của các bạn hữu mình.

    Khiếp sợ cho linh hồn của mình, cậu trốn khỏi Rôma, từ bỏ gia sản của mình, đến sống trong một làng nhỏ với người bảo mẫu.   Khi Thiên Chúa kêu gọi ngài vượt xa hẳn cuộc sống yên tịnh đó để tiến tới một cuộc sống còn cô quạnh hơn, thì ngài lên núi Subiaco, sống ẩn tu dưới sự hướng dẫn của một vị ẩn tu khác tên là Rômanô. Sau nhiều năm cầu nguyện, tiếng tăm thánh thiện của ngài đồn xa, các thầy đan sĩ xin ngài làm viện phụ của họ. Ngài cảnh giác họ là ngài sẽ rất nghiệm nhặt đối với họ, nhưng chọ cứ nài nẵng, nên ngài chấp nhận – sau đó chịu không nổi, họ bỏ thuốc độc cho ngài, thế là đúng như những gì ngài đã nói trước cho họ hay.

    Thế là ngài lại sống cô tịch một mình, nhưng không được lâu. Những môn đệ kế tiếp của ngài có thiện chí hơn, nên ngài giúp họ tạo lập ra đến 12 đan viện tại Subiaco, trong đó các đan sĩ sống thành những cộng đoàn gồm 12 người một.

    Rồi thình lình ngài từ giã họ khi những cuộc tấn công của một vị ẩn tu khác khiến cho ngài không thể tiếp tục sự hướng dẫn thiêng liêng mà ngài đã đảm nhận tại đó. Nhưng lần này ngài lên núi Cassinô và thiết lập một đan viện là khuôn mẫu cho hệ thống đan viện sau này. Cô em song sinh của ngài, thánh nữ Scolastica, cũng đến gần đó để sống đời tu trì.

    Sau gần 1500 năm của truyền thống đan viện, nay thì ai cũng biết rõ những hướng dẫn của ngài về đời sống đan tu. Nhưng thánh Bênêđíctô quả là người sáng tạo ra một đường lối tu trì mới. Không có ai vào thời đó lại  giúp cho các đan sĩ sống thành cộng đoàn tại các đan viện, với một bộ luật đàng hoàng.

    Ngài có một sự thánh thiện và một khả năng dấn bước cách chắc chắn. Những xác tín và những lời dạy dỗ của ngài về đời sống tu trì được tập họp lại trong bộ Luật dòng của thánh Bênêđíctô, vốn hướng dẫn đời sống đan tu trong suốt 15 thế kỷ nay.

    Trong bộ luật nhỏ bé những đầy sức mạnh này, thánh Bênêđíctô đem tất cả những gì ngài đã học hỏi được tại trường lớp về sức mạnh của lời nói và những nhịp điệu của thuật hùng biện vào phục vụ cho Tin Mừng. Xưa kia ngài đã không từ bỏ trường lớp vì lẽ ngài không thông hiểu được các môn học! Các học giả đã nói cho chúng ta hay rằng Luật dòng của ngài phản ánh rằng ngài hiểu biết rất thấu đáo về các qui luật của nghệ thuật hùng biện và văn hóa của thời đại. Bất chấp cái kinh nghiệm trường lớp này, ngài coi thuật hùng biện văn chương vừa là một dụng cụ giống hết một chiếc búa: Chiếc búa giúp xây dựng nhà cửa, mà cũng có thể dùng để đập nát đầu con người. Vậy là văn chương hùng biện có thể được dùng để cổ võ cho tật xấu… hay để cổ võ lòng mộ mến Thiên Chúa. Bênêđíctô không trốn tránh thuật hùng biện vì nó mê hoặc dân chúng rơi vào nết xấu; đúng ra ngài cải cách nó.

    Cũng từ đó, một quy luật từ từ được hình thành nói lên đời sống cầu nguyện phụng vụ, học hỏi, lao động chân tay và sống với nhau trong một cộng đoàn dưới một cha chung là đan viện trưởng. Sự khổ hạnh của thánh Bênêđictô được coi là chừng mực, và đời sống bác ái của ngài được thể hiện qua sự lưu tâm đến những người chung quanh. Trong thời Trung cổ, tất cả các đan viện ở Tây phương dần dà đều sống theo Quy luật thánh Bênêđictô.

    Bênêđíctô không muốn đánh mất quyền lực của tiếng nói giúp đạt thấu tới Thiên Chúa, chỉ vì lẽ có những người khác đã dùng tiếng nói để dìm người ta xuống chỗ bùn lầy. Vậy chúng ta hãy cất tiếng hát sao cho trái tim và những tiếng nói hòa hợp được với nhau.” Luôn luôn cần phải cất giọng đọc mạnh mẽ trong cộng đoàn trong các bữa ăn, khi tiếp đón khách, hay để giáo dục các tập sinh. Nghe “lời” một lần là chưa đủ, “Chúng tôi muốn luật dòng phải được thường xuyên đọc lên cho cộng đoàn nghe.”

    Ngài hiểu rõ rằng lời Thiên Chúa chính là nền tảng mạnh mẽ và chân thật nhất tạo thành sức mạnh của những lời nói: “Bởi lẽ có trang sách nào của cuốn Kinh Thánh lại chẳng phải là một qui luật cho đời sống tại thế này sao?” Ngài đã cảm nghiệm được quyền lực của Lời Thiên Chúa được chứa đựng trong Kinh Thánh: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đậm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì Lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55, 10-11).

    Để cầu nguyện, Bênêđíctô quay về với các Thánh vịnh, là chính các thi ca của phụng vụ Do Thái mà chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện. Việc nối kết giọng nói của chúng ta với Chúa Giêsu hầu ca ngợi Thiên Chúa trong ngày là điều thật quan trọng  khiến cho ngài gọi đó là “Công việc của Thiên Chúa.” Và chẳng có gì  được đặt ưu tiên trên công việc của Thiên Chúa cả. “Vậy vừa nghe hiệu lệnh tới giờ đọc Thần vụ, thì mọi công việc khác sẽ ngưng lại.” Bênêđíctô tin cùng với Chúa Giêsu rằng: “Người ta không chỉ sống bởi bánh, mà còn bởi lời do từ miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).

    Kinh nguyện này được gọi là kinh Thần vụ, được hát lên từ cuốn sách Phụng vụ Giờ kinh, vào những thời gian chuyên biệt của một ngày. Người đan sĩ nào không thể tới nhà thờ mà đọc thần vụ được, thì người ấy hãy lập tức quì gối xuống tại nơi mình đang ở: Tại cánh đồng, trong chuồng bò, để hoàn thành công việc của Thiên Chúa, ngay dưới vòm trời này. Chẳng có gì khác nhau giữa cầu nguyện tại nhà thờ hay ở ngoài trời – nhưng có một cái gì đó rất đặc biệt liên quan tới kinh nguyện. “Chúng tôi tin rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi,” nhưng “không có nghi ngờ gì cả, chúng tôi tin chắc rằng Thiên Chúa hiện diện cách rất đặc biệt khi chúng ta tham dự Thần vụ.” Hội Thánh cũng tin những lời lẽ trên của thánh Bênêđíctô, và coi Thần vụ chính là kinh nguyện của Hội Thánh.

    Không đủ để cầu nguyện bằng các lời kinh. Thánh Bênêđíctô còn dạy cho các môn đệ ngài thực hành việc đọc sách Thánh – chính khi đọc sách Thánh, các môn đệ quả đang cầu nguyện trong khi thi hành công việc của Thiên Chúa. Trong việc đọc Kinh Thánh này (Lectio Divina), ngài và các đan sĩ của ngài ghi vào trí nhớ Kinh Thánh, học hỏi nó, chiêm ngường nó cho tới khi nó trở  thành một phần của bản thân của họ. Họ dành bốn đến sáu tiếng mỗi ngày để đọc sách Kinh Thánh. Nếu thầy dòng có giờ rỗi, thì “các anh em cần phải sử dụng thời giờ rỗi đó để thực tập các Thánh vịnh.” Các bài học Kinh Thánh phải được đọc lên từ trí nhớ chứ không phải bằng đọc ra từ sách vở. Trong danh sách “Các Dụng cụ của các Công việc lành thánh” của thánh Bênêđíctô, thì có kể đến “việc thưởng thức đọc sách Thánh.”

    Tuy nhiên việc đọc sách thánh này phải là một việc học hỏi trong niềm yêu thương, chứ không phải trong trí tuệ. Đây không chỉ là một việc thao luyện lý trí, mà là một việc thao luyện chiêm niệm, để “những tiếng nói và con tim của chúng ta hòa hợp lại với nhau.” Mỗi  lời của Thiên Chúa phải được thấm đượm vào tâm trí, chứ không chỉ nơi trí nhớ của ta. “Chúng ta phải hiểu ra được rằng mình cho được Chúa nghe lời vì tấm lòng ta trong sạch và đầy đau đớn, chứ không phải vì số lượng của các lời mình nói.” Con tim trong sạch khi nó trống rỗng không chứa một sự gì, ngoài Lời Chúa mà thôi, và ước ao của ta ở lại nơi Lời Thiên Chúa.

    Trước tiên là đọc Lời Chúa trong Kinh Thánh, cho tới khi tìm thấy một câu có sức gợi ý, thì ta hãy dừng lại. Khuynh hướng tự nhiên của ta những muốn đọc câu đó lên và nghĩ xem câu đó muốn nói điều gì, nó có liên can tới đời sống chúng ta ra sao, rồi lại tiếp tục đọc. Nhưng đó không phải là một phần của việc đọc Thánh thiêng (sacred reading).

    Bước kế tiếp chính là ghi nhớ câu đó, nhắc nhở nó nhiều lần ở nơi trí nhớ mà không đọc nó lên, mà không nghĩ về nó, mà chỉ nhắc lại nó, cho đến khi nó như đến từ tấm lòng của ta, chứ không còn là tiếng nói nữa, cho tới khi quyền lực của Lời Thiên Chúa chiếm hữu lấy chúng ta.

    Khi câu nói đó đã mất hết ý nghĩa để chỉ còn quyền lực của nó ở lại, thì con người sẽ rơi vào chỗ thinh lặng, không còn suy đi nghĩ lại nữa, mà để cho sự gợi hứng của Thần khí nói cho ta hay về ý nghĩa trong lòng ta. Rồi cuối cùng con người chìm sâu trong chiêm niệm, vượt xa hơn tiếng nói, xa hơn sự hiểu biết của trí tuệ, để ở lại trong sự hiện diện của Thiên Chúa trong Lời Thần linh của Ngài.

    Trong câu chuyện đời sống thánh Bênêđíctô, có một người nghèo khó kia đến đan viện xin một chút dầu. Dù cho ngài đã ra lệnh cho anh ta dầu, nhưng người giữ kho từ chối – bởi vì nhà chỉ còn ít dầu thôi. Nếu người giữ kho cho dầu đi, thì nhà chẳng còn chút dầu nào nữa. Tức giận vì sự thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa đó, thánh Bênêđictô quì xuống cầu nguyện. Khi ngài cầu nguyện, thì trong bình đựng dầu có tiếng sôi sục. Các đan sĩ say sưa nhìn dầu đến từ Thiên Chúa dâng lên đầy bình đựng dầu, rồi trào ra dưới nắp bình, khiến nắp bình bị đẩy ra, và dầu tuôn tràn ra xuống nền nhà.

    Trong kinh nguyện của thánh Bênêđíctô, lòng chúng ta giống như một chiếc bình rỗng các tư tưởng và những sự thôi thúc của trí tuệ. Chỉ còn duy có sự tin tường vào sự quan phòng của Thiên Chúa để làm cho lòng chúng ta được đày tràn. Việc làm rỗng lòng chúng ta như thế đem sự tốt lành sung mãn của Thiên Chúa đến, khiến cho nó sôi sục lên trong lòng ta, trước hết với một hay hai gợi hứng, rồi sau cùng với trái tim ta lấp đầy tình yêu chiêm niệm.

    Thánh Bênêđíctô qua đời trong khi cầu nguyện trước Thiên Chúa. Theo truyền thống, thì ngày qua đời của ngài nhằm ngày 21/3/547. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo cái chết của ngài, các môn đệ của ngài đã dàn trải khắp Châu Âu, tạo nên một nền văn minh có nền tảng dựa trên đức tin Kitô giáo. Đức Thánh Cha Phaolô VI vào năm 1964 tuyên bố ngài là quan thầy của Châu Âu. Trên huy hiệu kính thánh Bênêdíctô, có những câu đáng ghi nhớ như sau:

Chớ gì chúng con được củng cố bởi sự hiện diện của Chúa vào giờ chúng con chết!

– Chớ gì Thánh giá của Chúa là ánh sáng cho con!

– Hãy cút đi, hỡi Xatan, đừng gọi ý cho ta về những sự hào nhoáng của thế gian! Ngươi thèm khát sự dữ ư? Ngươi hãy uống lấy nọc độc của ngươi!

Từ khoá:

Bài viết liên quan Lễ về Chư Thánh