NGÀY 30 THÁNG 12

NGÀY 30 THÁNG 12  (Trong Tuần Bát Nhật Lễ Chúa Giáng Sinh)

Bài Ðọc I: 1 Ga 2, 12-17

“Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì tồn tại muôn đời”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Hỡi các con, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con được tha vì danh Người.

Hỡi các phụ huynh, ta viết cho các con, vì các con đã nhận biết Ðấng vẫn có từ ban đầu.

Hỡi các thiếu niên, ta viết cho các con, vì các con đã chiến thắng quỷ dữ.

Hỡi các trẻ nhỏ, ta viết cho các con, vì các con đã nhận biết Chúa Cha.

Hỡi các thanh niên, ta viết cho các con, vì các con dũng cảm, và lời Thiên Chúa vẫn ở trong các con, và các con đã chiến thắng quỷ dữ.

Các con đừng yêu mến thế gian và những điều thuộc về thế gian. Nếu ai yêu mến thế gian thì lòng mến của Chúa Cha không có trong kẻ ấy. Vì mọi sự ở trong thế gian là đam mê của xác thịt, đam mê của con mắt, và kiêu căng vì của cải, những điều đó không phải bởi Chúa Cha, nhưng bởi thế gian mà ra. Và thế gian qua đi với đam mê của nó. Còn ai thực hiện thánh ý Thiên Chúa, thì tồn tại muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 7-8a. 8b-9. 10

Ðáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan! (c. 11a).

Xướng: 1) Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang; hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. – Ðáp.

2) Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa, mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan.- Ðáp.

3) Hãy công bố giữa chư dân rằng: Thiên Chúa ngự trị. Người dựng vững địa cầu cho nó khỏi lung lay, Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. – Ðáp.

Alleluia:

Alleluia, alleluia! – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 2, 36-40

“Bà đã nói về Người với tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

Ðó là lời Chúa.

 Suy niệm

Dâng Chúa Giê-su vào Đền Thờ

Thánh Lu-ca kết thúc tường thuật Chúa Giê-su giáng sinh với một sự kiện liên hệ tới lề luật Ít-ra-en. Sự kiện này liên hệ đến ngày thứ tám và ngày thứ bốn mươi trong cuộc đời của Hài Nhi Giê-su.

Ngày thứ tám là lúc phải làm lễ cắt bì. Như vậy, Chúa Giê-su được cộng đoàn đón nhận; cộng đoàn của lời hứa xuất phát từ Áp-ra-ham, giờ đây cách hợp pháp Người cũng thuộc dân tộc Ít-ra-en. Cùng với việc cắt bì, Lu-ca cũng nêu lên việc đặt tên cho con trẻ như sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai: Giê-su, Thiên Chúa là Đấng cứu độ (x. Lc 2,21).

Có ba sự kiện xảy ra trong ngày thứ bốn mươi của con trẻ: sự “thanh tẩy” của Mẹ Ma-ri-a, sự “chuộc lại” con trai đầu lòng, vì theo Lề Luật mọi con trai đầu lòng được dành cho Chúa, và việc “dâng hiến” Chúa Giê-su vào Đền Thờ.

Thánh Lu-ca đặt trọng tâm vào sự kiện thứ ba, là việc “dâng hiến” Chúa Giê-su vào Đền Thờ. Điều này muốn nói lên rằng Hài Nhi này không cần được chuộc lại và không thuộc sở hữu của cha mẹ trần gian, nhưng được thánh hiến cho Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Hạn từ “paristanai” có nghĩa là “dâng hiến”, “thánh hiến”, là hạn từ liên hệ đến sự trao ban, dâng của lễ và chức vụ tư tế.

Cùng với hành động hiến dâng này thì một cảnh tượng tiên tri diễn ra tiếp theo. Ông già Si-mê-ôn và nữ ngôn sứ An-an được Thánh Thần thúc đẩy, cả hai lên Đền Thờ và như là đại diện cho dân Ít-ra-en. Cả hai chúc tụng “Đấng Ki-tô của Thiên Chúa” (Lc 2,26).

Tin Mừng kể về dung mạo của tiên tri An-na. Từ khi xuất giá và sống với chồng được bảy năm, và sau đó bà ở goá, cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. “Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa” (Lc 2,37). Đây là hình ảnh của một con người đạo đức. Đền Thờ cũng như là nhà của bà. Bà sống và hướng đến Thiên Chúa, dành cho Thiên Chúa cả thân xác và linh hồn. Như thế, bà thật sự là một con người được Thánh Thần thúc đẩy, và là một tiên tri. Vì sống nơi Đền Thờ, trong sự thờ phượng, nên bà cũng sống trong sự hiện diện của Chúa Giê-su, Đấng đang đến. “Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem” (Lc 2,38). Lời tiên tri của bà hệ tại ở lời loan báo niềm hy vọng mà bà đang sống.

Thánh Lu-ca kết thúc tương thuật về việc Chúa Giê-su giáng sinh và thời thơ ấu của Người trong khung cảnh ứng nghiệm mọi việc như Luật Chúa truyền. (x. Lc 2,39). Cả gia đình Thánh Gia trở về nơi cư ngụ là thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê. “Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2, 40).

ĐTC Biển Đức XVI, Thời thơ ấu của Đức Giêsu Nazarét (bản dịch của Fx. Phạm Đình Phước SDB), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội 2013, tr. 79-86.

 

Lectio Divina NGÀY 30-12:

TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH : Lc 2, 36-40

1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Almighty Father, you let humble, faithful people
recognize your Son and welcome him as the Saviour who brought freedom and life to his people. May we too recognize and welcome Jesus in all that is little and humble and with him grow up in wisdom and grace to the maturity of your sons and daughters, so that we attain the full stature of Jesus. We ask this through Christ our Lord.
Lạy Chúa Cha toàn năng, Chúa đã để cho những người trung thành, khiêm nhu Nhận ra Con Chúa Và chào đón Ngài là Đấng Cứu Thế Đấng đã đem lại tự do và sự sống cho dân của mình. Nguyện xin cho chúng con cũng nhận ra và đón nhận Chúa Giêsu Trong tất cả những người nhỏ bé và khiêm hạ Và cùng với Người lớn lên trong sự khôn ngoan và ân sủng Đến độ trưởng thành của con cái Chúa, Để chúng con đạt được vóc dáng đầy đủ của Chúa Giêsu. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
2) Gospel reading : Luke 2,36-40  2) Tin Mừng : Lc 2, 36-40
There was a prophetess, Anna, the daughter of Phanuel, of the tribe of Asher. She was well on in years. Her days of girlhood over, she had been married for seven years before becoming a widow. She was now eighty-four years old and never left the Temple, serving God night and day with fasting and prayer. She came up just at that moment and began to praise God; and she spoke of the child to all who looked forward to the deliverance of Jerusalem.

When they had done everything the Law of the Lord required, they went back to Galilee, to their own town of Nazareth. And as the child grew to maturity, he was filled with wisdom; and God’s favour was with him.

Khi ấy, có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên.  Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm.  Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Bà không rời khỏi Đền Thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa.  Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nagiarét.  Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

3) Reflection 3)  Suy Ngắm
• In the first two chapters of Luke’s Gospel, everything turns around the birth of two persons: John and Jesus. The two chapters make us feel the perfume of the Gospel of Luke. In it the environment is one of tenderness and of praise. From the beginning until the end, the mercy of God is sung and praised: The canticles of Mary (Lk 1, 46-55), of Zechariah (Lk 1, 68-79), of the Angels (Lk 2, 14), of Simeon (Lk 2, 29-32). Finally, God comes to fulfil his promises and he fulfils them in behalf of the poor, of the anawim, of those who know how to persevere and hope in his coming: Elizabeth, Zechariah, Mary, Joseph, Simeon, Anna, the shepherds.   Trong hai chương đầu tiên của sách Tin Mừng theo Luca, mọi việc xoay quanh việc chào đời của hai hài nhi:  ông Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu.  Hai chương này cho chúng ta cảm thấy hương thơm của sách Tin Mừng Luca.  Trong đó, môi trường là sự dịu dàng và lời ngợi khen.  Từ đầu chí cuối, lòng thương xót của Thiên Chúa đã được ca vang và ngợi khen:  Bài ca vịnh của Đức Maria (Lc 1:46-55), của ông Giacaria (Lc 1:68-79), của các Thiên Thần (Lc 2:14), của cụ ông Simêon (Lc 2:29-32).  Cuối cùng, Thiên Chúa đến để hoàn thành lời hứa của Người và Chúa hoàn thành chúng trong danh nghĩa của người nghèo khó, của người cùng khổ, của những ai biết cách kiên tâm và hy vọng cho việc Chúa sắp giáng lâm:  bà Êlisabéth, ông Giacaria, Đức Maria, thánh Giuse, cụ ông Simêon, bà tiên tri Anna, các mục đồng.
• Chapters 1 and 2 of Luke’s Gospel are very well known, but not deepened enough. Luke writes imitating the writings of the Old Testament. It is as if the first two chapters of his Gospel were the last chapter of the Old Testament which opens the door for the coming of the New. These two chapters are the foundation or hinge between the New and the Old Testament. Luke wants to show that the prophecies are being realized. John and Jesus fulfil the Old and begin the New.   Các chương 1 và 2 của sách Tin Mừng Luca thì rất nổi tiếng, nhưng không sâu sắc đủ.  Tác giả Luca viết dựa theo các tác phẩm của Cựu Ước.  Có vẻ dường như hai chương đầu tiên của sách Tin Mừng của ông là chương cuối của Cựu Ước dùng để mở ra cho sự xuất hiện của Tân Ước.  Hai chương này là nền tảng hay là cái bản lề nối giữa Tân Ước và Cựu Ước.  Thánh Luca muốn cho thấy rằng những lời tiên tri đang được thực hiện.  Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu hoàn thành Cựu Ước và bắt đầu Tân Ước.
• Luke 2, 36-37: The life of the Prophetess Anna. “There was a prophetess, Anna, daughter of Phanuel, of the tribe of Asher. She was well on in years. She had been married for seven years before becoming a widow. She was now eighty-four years old and never left the Temple, serving God night and day with fasting and praying”. Like Judith (Jdt 8, 1-6), Anna was also a widow. Like Deborah (Jg 4, 4), she also was a prophetess. That is, a person who communicates something of God and who has a special opening toward the things of faith to the point of being able to communicate them to others. Anna got married when she was young, and lived seven years married, then she became a widow and continued to dedicate herself to God up to the age of eighty-four years. Today, in almost all our communities, in the whole world, we find groups of women of a certain age, many of them are widows, whose life is reassumed in prayer and in being present in the celebrations and in service to the neighbour.   Lc 2:36-37:  Cuộc đời của bà Tiên Tri Anna.  “Có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên.  Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm.  Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Bà không rời khỏi Đền Thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa.”  Giống như bà Giuđitha (Gđt 8:1-6), bà Anna cũng là một góa phụ.  Giống như bà Đêbôra (Tl 4:4), bà cũng là một nữ ngôn sứ.  Có nghĩa là, một người đi thông tri điều gì đó về Thiên Chúa và là người có cửa ngõ đặc biệt hướng về những việc của đức tin đến độ có thể thông tri những điều ấy cho người khác.  Bà Anna đã kết hôn khi còn thanh xuân, và đã sống với chồng được bảy năm, sau đó bà trở thành góa phụ và tiếp tục dâng mình cho Chúa cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Ngày nay, trong hầu hết các cộng đoàn của chúng ta, trên toàn thế giới, chúng ta thấy các nhóm phụ nữ ở một lứa tuổi nào đó, nhiều người trong số họ là những góa phụ, những người mà cuộc sống của họ được dâng cho lời cầu nguyện và hiện diện trong các thánh lễ và trong sự phục vụ tha nhân.
• Luke 2, 38: Anna and the Child Jesus. “She came up just at that moment and began to praise God, and she spoke of the child to all who looked toward to the deliverance of Jerusalem”. She went to the Temple at the moment when Simeon embraces the child and speaks with Mary concerning the future of her son (Lk 2, 25-35). Luke suggests that Anna takes part in this gesture. The look of Anna is one of faith. She sees a child in the arms of his mother and discovers in him the Saviour of the world. –  Lc 2:38:  Bà Anna và Chúa Hài Đồng Giêsu.  “Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.”  Bà đã đi lên Đền Thờ vào lúc mà ông Simêon đang ẵm Chúa Hài Đồng trên tay và nói với Đức Maria về tương lai của con bà (Lc 2:25-35).  Thánh Luca cho thấy rằng bà Anna cũng dự phần vào trong cử chỉ này.  Sắc diện của bà Anna là của một người có đức tin.  Bà trông thấy một Trẻ Thơ ở trong tay của mẹ Ngài và khám phá ra trong Trẻ Thơ ấy là Đấng Cứu Độ thế gian.
• Luke 2, 39-40: The life of Jesus in Nazareth. “When they had done everything the Law of the Lord required, they went back to Galilee, to their own town of Nazareth. And as the child grew to maturity, he was filled with wisdom and God’s favour was with him”. In these few words, Luke communicates something of the Mystery of the Incarnation. “The Word became flesh and dwelt among us” (Jn 1, 14). The Son of God becomes equal to us in all things and assumes the condition of Servant (Ph 2, 7). He was obedient even unto death and death on the cross (Ph 2, 8). He lived thirty-three years among us, and of these, he lived thirty in Nazareth. If we want to know how the life of the Son of God was during the years that he lived in Nazareth, we have to try to know the life of any Nazarene of that time, change his name, give him the name of Jesus and we will know the life of the Son of God in the thirty-three years of his life, in everything like us except sin (Heb 4, 15). During these years of his life, “The child grew and became strong, filled with wisdom and the grace of God was upon him”. In another passage, Luke affirms the same thing using other words. He says that the child “grew in wisdom, age and grace before God and men” (Lk 2, 52). To grow in wisdom means to assimilate the knowledge, the accumulated human experience throughout the centuries: the times, the feasts, the medicine, the plants, prayer, customs and uses, etc. This is learnt living and living together in the natural community of the people. To grow in age means, to be born small, to grow and to become an adult. This is the process of every human being, with his joys and his sadness, his discoveries and his frustrations, his anger and his love. This is learnt by living and by living together in the family, with the parents, the brothers and the sisters, the relatives. To grow in grace means: to discover the presence of God in the life, his action in everything that happens, vocation, his call. The Letter to the Hebrews says that: “Even if he was the Son, he learnt obedience through his sufferings” (Heb 5, 8).   Lc 2:39-40:  Cuộc đời của Chúa Giêsu tại làng Nagiarét.  “Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nagiarét.  Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.”  Trong một vài chữ, tác giả Luca thông tri điều gì đó về Mầu Nhiệm Nhập Thể.  “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).  Con Thiên Chúa đã hạ mình bình đẳng với chúng ta trong mọi thứ và mặc lấy thân Nô Lệ (Pl 2:7).  Người đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá (Pl 2:8).  Người đã sống ba mươi ba năm giữa chúng ta, và trong những năm ấy, Người đã sống ba mươi năm tại làng Nagiarét.  Nếu chúng ta muốn biết cuộc sống của Con Thiên Chúa trong những năm Người sống tại làng Nagiarét như thế nào, chúng ta phải cố gắng tìm hiểu cuộc sống của người dân Nagiarét thông thường vào thời ấy, đổi tên anh ta, đặt cho anh ta tên là Giêsu và thì chúng ta sẽ biết được cuộc sống của Con Thiên Chúa trong ba mươi ba năm của Người, giống tất cả mọi thứ như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15).  Trong những năm tháng đời sống này của Người:  “Con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người”.  Trong một đoạn khác, thánh Luca khẳng định điều tương tự trong những chữ khác.  Ông viết rằng con trẻ “ngày càng thêm không ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:52).  Để lớn lên trong sự khôn ngoan có nghĩa là hòa nhập các kiến thức, kinh nghiệm của loài người được tích lũy qua hằng thế kỷ:  thời gian, các ngày lễ hội, thuốc thang, cây cỏ, lời cầu nguyện, phong tục tập quán, v.v.  Điều này được học qua đời sống và việc sống chung với cộng đồng tự nhiên của loài người.  Lớn lên có nghĩa là, khi được sinh ra thì nhỏ bé, sau đó lớn lên và là người trưởng thành.  Đây là sự tiến triển của mỗi người, cùng với những niềm vui, nỗi buồn của mình, những khám phá và thất vọng của mình, cũng như với sự tức giận và tình yêu của mình.  Điều này được biết đến qua lối sống và việc sống chung trong gia đình, với cha mẹ, với anh chị em, với những người thân thuộc.  Lớn lên trong ân nghĩa có nghĩa là:  khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống, việc làm của Chúa trong mọi việc xảy ra, trong ơn gọi, lời kêu mời của Người.  Thư gửi tín hữu Do Thái viết rằng:  “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8).
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
53.  Sick and aging confreres

The community surrounds its sick and aged confreres with care and affection.

They in their turn, accepting their condition and serving the community in whatever way they can, are a source of blessing for it;  they enrich its family spirit and deepen its unity.

Their life takes on a new apostolic significance:  as they offer their limitations and sufferings in a spirit of faith for their brothers and for the young, they are united with the redeeming passion of the Lord, and continue to share in the Salesian mission.

53. Các hội viên cao niên và đau yếu        

Các cộng thể đùm bọc các hội viên cao niên và đau yếu bằng sự săn sóc và thương mến.

Khi góp phần phục vụ theo khả năng và chấp nhận thân phận mình, các hội viên ấy là nguồn chúc lành cho cộng thể, làm cho tinh thần gia đình được phong phú và làm cho sự hiệp nhất của cộng thể được sâu xa hơn.

Đời sống của họ mang một ý nghĩa tông đồ mới: nhờ lấy đức tin mà dâng hiến những giới hạn và những đau đớn vì lợi ích của anh em và thanh thiếu niên, họ kết hợp với cuộc thương khó cứu độ của Chúa và tiếp tục tham dự vào sứ mệnh Salêdiêng.

5) Personal questions 5)  Câu hỏi cá nhân
• Do you know any persons like Anna, who have a look of faith on the things of life? *  Bạn có biết người nào giống như bà cụ Anna, người đã có một cái nhìn đức tin vào những việc trong cuộc sống không?
• To grow in wisdom, age and grace, how does this take place in my life? *  Để lớn lên trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, điều này xảy ra trong đời sống của tôi như thế nào?
6) Concluding prayer 6)  Kinh kết
Sing to Yahweh, bless his name! Proclaim his salvation day after day, declare his glory among the nations, his marvels to every people! (Sal 96,2-3) Hát lên mừng CHÚA, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, Kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, Cho mọi nước hay những kỳ công của Người. (Tv 96:2-3)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

GB. Nguyễn Văn Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa