Thánh LUY VERSIGLIA sdb, Giám mục và  Thánh CALLISTO CARAVARIO sdb, Linh mục

Thánh LUY VERSIGLIA, Giám mục và  Thánh CALLISTO CARAVARIO, Linh mục

Tử Đạo Salêdiêng Tiên Khởi, Lễ kính

Thánh Luy Versiglia sinh tại Oliva Gessi, Pavia, ngày 5 tháng 6 năm 1873, vào Nguyện xá Valdocco lúc 12 tuổi và được biết Don Bosco. Ngài được truyền chức linh mục năm 1895 và làm Tập sư vài năm ở Genzano, Rôma. Năm 1906 ngài dẫn đầu phái đoàn Salêdiêng truyền giáo đầu tiên tới Shiu Chow, nước Trung Hoa. Ngài được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Đại diện Tông Toà và được phong Giám mục ngày 9 tháng 1 năm 1921.

Thánh Callisto Caravario sinh tại Cuorgné, Torino, ngày 8 tháng 6 năm 1903. Ngài học tại Nguyện xá Valdocco. Năm 1924, khi còn là thầy tư giáo, ngài đến Trung Hoa như là thừa sai. Năm 1929, ngài được Đức Cha Versiglia truyền chức linh mục và sai đến Phủ Doãn Tông Toà Shiu Chow.

Vì bảo vệ sự an toàn và nhân đức của ba phụ nữ Trung Hoa, hai vị thừa sai bị giết ngày 25 tháng 2 năm 1930 ở Li Thau Tseui, gần sông Lin Chow. Cuộc tử đạo của các ngài được Thánh Bộ đặc trách các Vụ án Phong Thánh công nhận ngày 12 tháng 11 năm 1976. Các ngài được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong Chân Phước ngày 15 tháng 5 năm 1983, và phong Thánh ngày 1 tháng 10 năm 2000. 

THÁNH CALLISTO CARAVARIO SDB

“Vâng, con sẽ theo Đức Cha sang Trung Hoa!” 

Vào năm 1922, Đức Cha Versiglia tới họp Tổng Tu Nghị tại nhà mẹ ở Torino. Cha Philip Rinaldi đắc cử Bề trên cả, Đấng kế vị thứ tư của Don Bosco. Người viết bài này chính là học sinh của nhà mẹ, vẫn còn nhớ mồn một cuộc biểu diễn ban nhạc mừng vị thượng khách. Biết bao lần tôi chăm chú nhìn khuôn mặt cao sang là Đức Cha Versiglia trong thời gian ấy.


Tổng tu nghị có một ảnh hưởng thần kỳ, hấp dẫn cả hồn lẫn xác chúng tôi. Thật là một cảm nghiệm quý hiếm, vì trong dịp đó, có những nhân vật Salêdiêng sáng chói hiện diện, cụ thể là Đức Cha Versiglia, có Đức Cha Comin và Đức Cha Aguilera, một vị là đại diện Tông Toà ở Equatore còn vị khác thuộc địa phận Terre Magellaniche. Sự hiện diện của quý khách tạo nên bầu khí nhộn nhịp huy hoàng, vui tươi và phấn khởi cho việc truyền giáo Đông Tây. Với trực giác của những vị thánh, cha Philip Rinaldi vừa đắc cử Bề Trên Cả, liền làm cho nhà mẹ thêm rộn ràng và làm các trường sôi động niềm phấn khởi hân hoan. Chính trong năm ấy, ngài đốc thúc việc mở trường truyền giáo, tạo nhiều ơn gọi trải rộng khắp thế giới Salêdiêng. Đức Cha Versiglia cuốn hút nhiều người hơn cả. Tuy mới khoảng 50 tuổi, với chòm râu rậm rạp, với nét mặt quắc thước trẻ trung, ngài đưa khoé nhìn và lời nói của mình ra, nung đốt bao con tim. Thế là Trung Hoa trở thành trở thành dải đất huyền mơ và thần tiên đối với mọi người.

Trong số những người mơ ước truyền giáo tại Trung Hoa, có cậu bé tên là Callisto Caravario, là học sinh trong trường huấn nghệ. Cậu cảm thấy nơi lòng mình sôi sục ước nguyện đi tới đất nước xa xôi để phục vụ những người dân chưa biết là ai. Thế là cậu được tuyển chọn vào nhóm theo Đức Cha tới môi trường tông đồ Tiều Châu để thực hiện những công trình vĩ đại. Phương án gửi các nhà truyền giáo đi Patagonia của Đức Cha Rinaldi làm trì hoãn việc gởi các hội viên trai tráng đi Viễn Đông. Tuy buồn, nhưng không thất vọng, Caravario chạy tới Đức Cha Versiglia, với tâm hồn nóng hổi, tha thiết hứa sẽ theo ngài, bất kể trước sau khi thụ phong linh mục. Cậu nói: “Thưa Đức Cha, con sẽ theo Đức Cha sang Trung Hoa. Cậu nhắc lại với giọng điệu đanh thép –Con xin giữ lời hứa”. Ai ngờ sau này, chính Đức Cha Versiglia đặt tay truyền chức linh mục cho người anh em hội viên trẻ theo mình cho tới vinh phúc tử đạo? Ao ước của Caravario là đi truyền giáo tại Trung Hoa, nơi cha Braga và cha Garelli đã tới trước.

Cha Giám đốc trường thánh Gioan đã viết: “Thầy ngỏ ý cho tôi biết với những lời rất đơn sơ và quyết liệt, biểu lộ một ý nghĩ chín chắn như được truy luyện nhờ quá trình làm việc nội tâm mãnh liệt lâu dài”. Quả thực, năm 1919, thầy đã hứa với cha Braga rằng: mình sẽ theo Đức Cha Versiglia, tỏ ý muốn theo Đức Cha tới Trung Hoa để giật giải chiến thắng bằng những gian khổ tại hiện trường mà mình mơ ước. Cha Braga ghi: “Trong những bức thư mà thầy viết cho tôi, thầy luôn cho biết niềm thao thức đến cùng là làm việc ở Viễn Đông”.

Vả lại, khi làm thành viên của Hội Lành Đức Mẹ Phù Hộ ở Valsalice, thầy tự lãnh trách nhiệm lo cho công việc truyền giáo với các bạn. Nơi cõi lòng, thầy luôn rực cháy ngọn lửa nhiệt thành tông đồ và sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào, với mục đích làm cho nước Chúa rộng lan giữa lương dân. Vào tháng 10/1924, niềm mong ước của thầy đã đạt: Các Bề Trên cử thầy đi truyền giáo ở Trung Hoa, lúc ấy đang phát triển mau lẹ đúng như lòng mong ước sau bao năm mong chờ. Thầy rời bến cảng Genova ngày 7/10 để đi Hong Kong. Hôm sau, cỡi sóng từ Địa Trung Hải tới Cảng Said và từ đó thầy viết cho mẹ: “Chúa ban cho con sức mạnh để sẵn lòng, vui vẻ hy sinh tính mạng. Xin tiếp tục cầu nguyện cho con”.

Từ Ấn Độ Dương, thầy viết tiếp: “Con rất hài lòng về của lễ hy sinh đã dâng hiến. Mẹ thân thương và tốt lành của con ơi, con luôn nhớ mẹ và ghi sâu nơi lòng hình ảnh của mẹ”. Thầy viết cho bà nội cách vắn tắt như sau: “Cháu rất sung sướng bỏ nước Ý để đi chinh phục các linh hồn về cho Chúa”. Từ Macao, ngày 11/11, thầy xác quyết: “Về phần mình, tôi chẳng bao giớ hối hận vì đã bỏ nước Ý. Tôi sung sướng lắm, tôi biết rằng, sự hy sinh của tôi rất to lớn. Thế nhưng, Chúa sẽ giúp tôi, tôi biết việc ra đi mưu ích cho rất nhiều người và còn tiếp tục mưu ích hơn nữa”.

Lý tưởng của Cha Caravario thật siêu vượt trên mọi đau khổ tinh thần và lễ dâng của cõi lòng. Thật hợp lý khi một giáo sư thần học viết về tính khí thầy: “Là con người mau mắn, lạc quan, can đảm đúng theo tiêu chuẩn người con của Don Bosco”. Ông viết tiếp: “Thật chẳng khi nào đọc thư của mẹ ngài mà không thấy phản ánh tinh thần hy sinh Truyền Giáo, ngài quảng đại từ bỏ mọi lưu luyến, dù là thánh thiện hay tốt đẹp, miễn sao kịp thời cứu các linh hồn đang trầm luân trong bóng tối ngọai giáo”. 

Một người trong Thánh Bộ Lễ Nghi nhận xét rằng: “Giữa những nhân đức chính yếu, người ta phải nể phục lòng hăng say tông đồ, cách riêng giữa các thanh thiếu niên. Họ phải ngưỡng mộ lòng ngoan hiền tuân theo thánh ý Chúa, đức vâng lời mau lẹ với các Bề Trên, lòng tin tưởng phó thác cho ơn trợ giúp của Chúa, và hồng ân bênh vực của Đức Maria Phù Hộ”.

Ngay cả linh mục kiểm soát đơn xin phong thánh cũng nhận định: “Cha Callisto tỏ ra là người rất sốt sắng, yêu thích ơn gọi và mê say lý tưởng truyền giáo”. Lúc đó, Đức Cha Micae Arduino là bạn đồng hành và nay là Giám Mục Locri. Ngài nói: “Dẫu là một hội viên trẻ tuổi, tôi thầy thầy chững chạc trong cuộc hành trình. Tôi đã thấy thầy khéo léo liên kết các tư giáo lại với nhau, nhờ đó, các thầy thoát khỏi những giây phút nguy hại”. Thế ra, Cha Caravario là một vị tông đồ chẳng những bằng thiện chí, mà còn bằng chính cuộc sống thực tế trước khi tới vùng đất truyền giáo.

Tại Thượng Hải 

Những chặng đuờng dẫn tới nơi truyền giáo của vị thánh trong thời gian 5 năm là: Viện Mồ Côi Thánh Giuse ở Thượng Hải, do chính cha Lỗ Bá Hương thiết lập và sau này cha Garelli điều hành, đảo Timor và Toà Giám Mục Tiều Châu.

Về thời gian thầy Caravario ở Thượng Hải, có lời chứng của cha Garelli thừa sức để nói lên sự vất vả và niềm thao thức của thầy tại địa điểm truyền giáo đầu tiên. “Thầy lập tức hiểu thấu nhu cầu ngôn ngữ, vì thế, không trì hoãn học tiếng Trung Hoa, tiếng Pháp và tiếng Anh. Chỉ trong thời gian ngắn, thầy có thể hiểu 3 thứ tiếng đó và làm cho những người dưỡng bệnh hiểu thầy. Mối quan tâm đầu tiên là dạy giáo lý để chuẩn bị cho các trẻ em lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Tôi hãnh diện có nhiều dịp Rửa Tội cho những em do thầy đã chuẩn bị trước”. “Tôi lập tức nghĩ đến việc vun trồng ơn gọi cho người bản xứ. Thầy đã chọn những trẻ có dấu chứng ơn gọi, dẫn đền giới thiệu với cha Giám Đốc, rời theo dõi chúng cẩn thận, giúp chúng vun trồng lòng đạo, sống khiết trinh và vui tươi. Thầy rất sung suớng khi thấy 2 học sinh xin vào hội dòng và ghi danh học tiếng Latinh”. “Thầy cũng quan tâm rất mạnh đến những học sinh thiếu thốn về vật chất. Hầu hết những trẻ dẫn vào viện cô nhi, không những rách rưới bẩn thỉu mà con ở trong tình trạng khốn khổ nữa. Không ít những em bị bỏ rơi đúng vào lúc cấp bách cần những thuốc men chữa trị, bởi lẽ dân ngoại thường mê tín dị đoan bậc cha mẹ thường nghĩ: giữ những em xấu số ở nhà thì mắc tai hoạ, do thần linh giáng xuống”. “Nhờ mối quan tâm mau lẹ của thầy Caravario, hàng trăm trẻ em được kịp thời cứu vớt khỏi nguy hại về thể xác và linh hồn”. 

Trong khi thầy phấn khởi thể hiện công tác của người Samaritano nhân lành giữa một đám đông phương vô kể, thầy cảm nếm được niềm vui tiên khởi bí ẩn của việc tông đồ. Dầu miệt mài làm việc, nhờ có sự hỗ trợ và hướng dẫn của các hội viên, thầy vẫn tìm giờ để học những môn thần học đã bỏ giở, khi còn ờ Tôrino. Theo thói tục cũ của người Salediêng, thầy đã làm việc hết sức mình để chuẩn bị chịu chức linh mục sớm và trang trọng bao có thể, để thực hiện đời sống linh mục của minh.

Năm 1926, hoàn cảnh của thời thế đã ngăn chặn từng bước các công cuộc của người công giáo ở Thượng Hải. Mọi sự đình chỉ vì không có việc làm. Người đầu tiên chịu trận là thầy Caravario phải xa rời Cô Nhi Vịên Thánh Giuse. Tan biến giống như chiêm bao, thầy đau lòng vâng chịu và cúi đầu thưa với Chúa: “ Xin ý Cha được thể hiện”. 

Tại Timor 

Thầy đuợc chuyển tới Timor, nên xuống tàu thuỷ ngày 6/4/1927. Sống tại hòn đảo của Indonesia được 2 năm giữa những học sinh trường huấn nghiệp Dili, đủ cho thầy thể hiện chức năng giáo dục đầy nhiệt huyết tông đồ. Cha Giám đốc Rosetti công nhận: “Thầy Caravario đối với tôi là một tu sĩ Saledieng lý tưởng. Thầy khiêm nhường, vâng lời, tốt lành, sinh động, nhiều khả năng và nhất là chăm học. Có thầy bên cạnh, tôi dường như trở nên người khác hẳn. Tính nhút nhát bẩm sinh của tôi không còn nữa mỗi khi gặp tình huống khó khăn. Tôi có khả năng giải quyết những vấn đề hóc búa. Đó là điều tôi thường nói về mình và vị giám đốc tương lai ở Timor cũng có nhận xét như thế. Chỉ cần một vài năm, nhờ có thầy Caravario đạo đức sốt sắng, thiết tưởng dân chúng của hòn đảo này sẽ theo Kitô giáo hết”.

Sự hiện diện của thầy Caravario tại Dili hữu hiệu tới mức cha Rostti hối thúc truyền chức cho thầy sớm chừng nào hay chừng đó, bất chấp sự khó khăn do ngăn trở việc học và không có sự hiện diện của Giám Mục tại địa phương. Vào tháng 8/1928, thầy viết về cho thân mẫu: “Khi nào con được cử hành lễ mở tay hả? – Con cũng không biết nữa. Mong có một Đức Cha nào tới Timor mà chẳng đựơc. Con vui lòng chờ đợi vì như thế, con có thể chuẩn bị kỹ hơn”. 

Về các môn thần học, đã tới giây phút chót rồi, cộng vào những nỗi vất vả làm việc cho trẻ, thầy tăng thêm công tác giáo dục và bội tăng lòng tôn thờ phép Mình Thánh, Cha Rosetti cho biết: “Thầy viếng Mình Thánh nhiều và lâu hơn. Mỗi đêm, sau kinh tối, ai nấy lên giường ngủ, khi không còn ai dòm ngó, thầy rón rén xuống nhà nguyện, quỳ thẳng người ở bậc bàn thờ, cúi đầu, chắp tay, thờ lạy Chúa Thánh Thể trong nửa giờ.” Dù sao, toàn bộ tâm tư thầy đều dồn về mầu nhiệm linh mục, tâm đắc rằng, nguồn mạch giáo dục cho giới trẻ hệ tại ở Thánh Thể, vì đó là phương thế bất khả khuyết cho việc truyền giáo. Thầy viết về cho mẹ ngày 3/1/1929 khi chuẩn bị về Trung Hoa: “Ước gì Chúa làm cho con nên vị linh mục như lòng Chúa mong ước. Làm lễ trước sau một chẳng có gí là quan trọng. Điều quan trọng là Chúa ban ơn cần thiết”.

Về tới đích 

Sự cố xảy ra cho công cuộc tại Timor buộc thầy phải rời đảo. Ngày 19/3/1929, thầy ra đi với con tim rã rời vì thương tiếc. Các người trẻ Indonesia cảm thấy ngậm ngùi thương nhớ. Tới Trung Hoa, Thầy được tin phải đi Tiều Châu để thụ phong linh mục, vì cách đó mấy tuần, Đức Cha Versiglia được lệnh chủ sự lễ truyền chức. Thầy được Giám mục đặt tay hôm 18/5/1929, đúng ngày lễ Hiện Xuống. Hôm ấy là ngày sung sướng nhất đời. Vị tân linh mục viết cho mẹ những dòng chữ sau đây: “Thưa mẹ kính mến, hôm nay con viết thăm mẹ với tâm hồn vui sướng khôn tả. Mẹ hãy cùng con dâng lời cảm tạ Chúa về ơn thực sự siêu thường này. Niềm khát mong của cõi lòng con nay đã hoàn tất. Mai con sẽ lên bàn thờ để cử hành lễ đầu tiên… Mẹ ơi, con phải nói gì hở mẹ? Xin mẹ cùng con cảm tạ Chúa và xin ngài ban cho con ơn trung thành với lời hứa trọng đại con đã dâng ngài”. Tới đây, vị tân linh mục nói lên nỗi lòng đầy xúc động và dường như tiên báo một tương lai thê thảm: “Callisto của mẹ từ nay không thuộc về mẹ nữa! Nó thuộc trọn về Chúa rồi. Mọi sự đã được dâng để phụng sự Ngài. Con hy vọng Chúa ban cho con ơn đó. Kể từ nay, mẹ chỉ cầu xin cho con trở nên một linh mục thánh thiện, để mọi người thấy rằng, con hoàn toàn được thánh hiến cho Chúa”.

Thế là dưới tác động soi dẫn của Thánh Thần, như lời tiên báo về số phận linh mục của mình, cha Caravario đặt câu hỏi: “Đời linh mục của con lâu hay chóng?” Và cha tự giải đáp: “Con không biết. Điều hệ trọng là con sống tốt, và xuất hiện trước Chúa, con có thể nói rằng: Nhờ ơn Chúa, con đã tận dụng mọi hồng ân Chúa ban”.

Trên cánh đồng làm việc 

Vào những ngày đầu tháng 7, cha Caravario đã nhập cuộc với trọn ý nghĩa tông đồ tại Liên Châu, cánh đồng làm việc vất vả đã được Đức Cha Versiglia trao phó tại khu vực Tiều Châu. Vị tân linh mục viết cho mẹ ngày 17/7 như sau: “Hành trình con phải đi phục vụ kéo dài 6 ngày liền trên sông. Cùng đi với chúng con có một nhóm học sinh về gia đình nghỉ hè, nên không thiếu niềm vui”.

Khi tới nơi, cha lập tức làm việc và tiên vàn phải học thổ ngữ Hác Ca. Cha thích đi thăm giáo dân cùng với các Giáo lý viên tới từng gia đình một. Cha không quản ngại khó khăn cũng không lưu ý đến tiên kiến, chỉ mong sao thích nghi với phong tục địa phương. Trừ trường hợp hút thuốc, vì luật dòng và truyền thống tu trì không cho phép. Cha tỏ ra hài lòng về mọi sự. Cha cẩn thận tránh né những lời than van và tránh những thái độ tỏ vẻ mệt mỏi vì tác vụ đòi hỏi phải như vậy.

Cha Parisi là bạn đồng hành với ngài trong cuộc đời truyền giáo viết: “Vừa tới Liên Châu, ngài gặp các học sinh và bạn hữu của trường. Ngài mau lẹ nhận ra tính tình và dẫn chúng tới thờ lạy Thánh Thể. Thật cảm động, vì nhiều lần trong ngày, thấy lũ trẻ có đạo cũng như chưa theo đạo, ngài vào nhà thờ để chầu Mình Thánh. Tất cả đều thích thú học giáo lý mà ngài đích thân cắt nghĩa cho chúng. Ngài quý thời gian như kho báu, nên tận dụng từng giây phút để học tập và nghiên cứu những sách viết về truyền giáo. Lần kia, có người biếu ngài cuốn sách truyện dựa trên cơ sở Thánh Kinh, ngài hất đi mà chẳng thèm nhìn đến qua bìa của sách”. Có điều làm cho ai nấy phải suy nghĩ, người ta nói rằng: ngài vội vã tận dụng thời gian để mưu ích cho linh hồn. Cha Rujjino xác nhận: “Ngài có đức tính bình thản và không lưu ý đến những tiếng ồn ào. Điều đó làm cho ngài bay bổng như được nâng trên đôi cánh của lòng nhiệt thành và đời đạo đức, khiến ngài có thể miệt mài làm việc tư riêng một cách say sưa. Các linh hồn gần gũi ngài cảm thấy rất dễ tín nhiệm và tin tưởng chuyện trò với ngài. Ngài sống thinh lặng nhưng lại làm việc một cách hữu hiệu, cho nên chỉ trong thời gian vài tháng, ngài đã tạo đựơc lòng đạo khá trưởng thành cho các giáo dân vùng Liên Châu”. 

Về điều này, có lời chứng của cha Antôn de Amicis, người thế chân sau khi ngài qua đời: “Tôi nhận thấy rằng, ngài mới làm việc có mấy tháng, mà nơi truyền giáo này phát triển thật mau lẹ. Giáo dân vùng này rất sốt sắng. Các trường học rất nghiêm túc, các giáo lý viên được huấn luyện chu đáo để đứng lớp. Đây là một khu vực truyền giáo dồi dao, hiệu năng và phong phú, những hứa hẹn tương lai”. Đức Cha Aeduino, giám mục Tiều Châu sau này nhận định: “Việc của Cha Caravario kéo dài ảnh hưởng cho tới 20 năm sau”.

Lý tưởng có giá trị hơn cuộc sống 

Đối với cha Caravario phải là như vậy, càng sống bao lâu, thì ngài tha thiết với việc truyền giáo và mơ ước được lãnh nhận vinh quang tử đạo bấy nhiêu. Ngài có thấy trước hồng ân tử đạo không nhỉ? Liệu ngài có tiên nghiệm điều này qua một hồng ân trực gíac đặc biệt? Tất nhiên ngài hằng mong ước và quảng đại đón nhận hồng ân này. Cha Rossetti nói: “Nỗi đau buồn rời bỏ Timor đã giảm thiểu vì nghĩ đến hồng phúc tử đạo ở Trung Hoa có thể xảy ra. Cha nói thêm: Điều đó là một bằng chứng cao cả mà ngài dành cho Thiên Chúa và cho các linh hồn. Có thể nói rằng: đó là đề tài suy nghĩ hằng ngày. Đó cũng là đề tài tôi thường nhắc tới vì thấy điều đó tạo đuợc niềm phấn khởi cho ngài và tôi vui vì thấy ngài hào hứng rực lửa tình yêu Thiên Chúa”. 

Cũng có một hội viên khác làm chứng về chuyện này, vì đã tới để chia tay lúc ngài rời Timor về Trung Hoa, hầu đón đợi ơn tử đạo. Vào tháng 2/1930, cha ở Tiều Châu, chờ đón Đức Cha Versiglia tới kinh lý giáo xứ Liên Châu. Ngày 13, tối hôm trước khi lên đường, khi dùng bữa, câu chuyện gợi nhớ vụ việc xảy ra cho Đức Cha Versiglia tại nhà mẹ vào 1922. Lúc ấy, cha Caravario là một tư giáo 20 tuổi. Khi nói về chuỵên này, thầy đã khẳng định một cách cương quyết với Đức Cha: “Thưa Đức Cha, bảo đảm con sẽ giữ lời hứa. Con sẽ theo Đức Cha tới Trung Hoa”. Giờ đây, lời nói trở thành sự thật, hai cha con nhắc đi nhắc lại với tất cả niềm phấn khởi vui tươi, và tất cả những ai dự tiệc chia ly, đều chào chúc những người ra đi: hy vọng không có điều gì bất trắc xảy ra, cho dù con đường thực thi tác vụ không an ninh chút nào. Nào ai dám nghĩ tưởng rằng, chỉ trong 28 giờ sau, những lời đầy khí huyết xưa của một học sinh muốn theo Đức Cha với ý chí cương quyết nay nên sự thật, là theo tới hồng ân tử đạo?

Vào giây phút cuối cùng tại luỹ tre xanh làng Lý Thâu Trương xảy ra vụ việc Đức Cha Versiglia tìm cách cứu nguy cho những người bạn đường của mình, và ngài phải hết sức dấn thân giải thoát các thanh nữ ra khỏi tình cảnh hãm hiếp của tụi côn đồ. Ngài nói cho bọn chúng là kẻ võ trang súng đạn: “Tôi đã già rồi, xin cứ giết tôi đi, thế nhưng thương tha cho người trẻ này”. Lời tha thiết nài xin của vị can đảm bênh vực đức khiết trinh là hành vi cuối chót đầy tính anh hùng không được lũ cướp lưu tâm. Đó là điều đã được Chúa quan phòng định liệu, để cha Caravario theo Đức Cha Versiglia, cùng đổ máu đào của mình ra vì vinh quang của Đức Kitô. Tụi cướp đã bắn hai phát đạn, sau này chúng kể lại cho nhau: “Kẻ trước, người sau, gục ngã chưa kịp nhìn”. Quả thật, giết xong một người, chúng lập tức bắn người khác.

Cha Lareno đã vất vả thâu lượm những gì liên quan đến 2 vị tử đạo. Ngài cho rằng, người bị giết trước tiên phải là Đức Cha Versiglia, bởi vì là người già lão và là trưởng đoàn, dám đối phó với tụi đạo tặc. Cha Caravario lo chi tiền xong, sau khi đã xưng tội và cùng Đức Cha cầu nguyện, khi vẫn còn đang ngây ngất, thì bọn chúng hạ sát và ngài được đưa vào vinh quang chiến thắng. Ngài không còn gì để quan tâm trên trần, vì lúc ấy máu ngài là của lễ hy sinh dâng lên Đức Kitô Giêsu, được loang ra để làm chứng cho tình yêu của mình đối với Chúa. Lòng quảng đại theo vị Giám Mục Versiglia trên cánh đồng tông đồ đã làm cho cha Caravario xứng đáng ruôn đầy chén thánh của Don Bosco bắng chính máu hồng tử đạo của mình.

Thi thể của cha Caravario đuợc tìm thấy cùng với thi thể của Đức Cha Versiglia, được rước về Tiều Châu và an táng ngày 10/3/1930, gần lối vào nhà thờ nhỏ của tiểu chủng viện Hồ Thái. Nơi đây, 2 vị chờ ngày vinh quang, ngày ấy nay đã tới, đó là ngày 1/10/2000, tại Roma, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ghi danh hai vị vào sổ các thánh.

CÁC LỜI TÂM PHÚC CỦA CHA CALLISTO CARAVARIO 

1/ Nếu vị linh mục cần phải thánh thiện ở xứ ta, thì ngài càng phải thánh thiện hơn ở đây, nơi ngài đang sống giữa những người ngoại giáo, nơi ngài phải làm gương mẫu cho các Kitô hữu.

2/ …Một linh mục, nếu muốn làm nên một việc thiện nào, nếu muốn xứng đáng với chức vụ của mình, phải là một linh mục thánh thiện thật.

3/ Còn bao nhiêu việc thiện nữa chúng ta chưa làm được.

4/ Vị linh mục, nếu là vị linh mục chân chính, phải tận hiến trót đời mình để phụng sự mọi người, để mở rộng Nước Chúa.

5/ Cũng như Chúa Kitô, Linh mục cũng phải chịu đau khổ, nhưng một ngày mai kia, những đau khổ này sẽ được phần thưởng trên Thiên Đàng.

6/ Chính Chúa đã muốn con ở trong hoàn cảnh này, và con phải đặt hết tin tưởng nơi Ngài.

7/ Dù bao trở ngại gian truân, tâm hồn tôi sẽ luôn bình thản an vui, vì Thiên Chúa sẽ hộ giúp chúng ta. Ẩn mình nơi tay Chúa, chúng ta sẽ được bảo đảm biết ngần nào.

8/ Cuộc đời này sẽ trôi qua đi, các nỗi phiền muộn sẽ phải mờ, và trên Thiên Đàng, chúng ta sẽ được hạnh phúc bất tận.

Từ khoá:

Bài viết liên quan Lễ về Các Thánh Sa-lê-diêng