THỨ BA TUẦN 4 MÙA CHAY

Bài Ðọc I: Ed 47, 1-9. 12

“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến ai, thì tất cả đều được cứu rỗi”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải. Khi đó có người đàn ông đi ra về hướng đông, tay cầm sợi dây, ông đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước tới mắt cá chân. Ông đo một ngàn thước tay nữa và dẫn tôi đi qua dưới nước đến đầu gối. Ông còn đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước đến ngang lưng. Ông lại đo thêm một ngàn thước tay nữa, và đây là suối nước, tôi không thể đi qua được, vì nước suối dâng lên cao quá, phải lội mới đi qua được, nên người ta không thể đi qua được. Người ấy nói với tôi: “Hỡi người, hẳn ngươi đã xem thấy”. Rồi ông dẫn tôi đi, rồi dẫn trở lại trên bờ suối. Khi trở lại, tôi thấy hai bên suối có nhiều cây cối. Người ấy lại nói với tôi: “Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến.

Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 45, 2-3. 5-6. 8-9

Ðáp: Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, và ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ (c. 8).

Xướng: 1) Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ xuống đầy lòng biển cả. – Ðáp.

2) Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh sương, thành được Chúa cứu giúp. – Ðáp.

3) Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên vũ trụ. – Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 50, 12a và 14a

Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ.

 

Phúc Âm: Ga 5, 1-3a. 5-16

“Tức khắc người ấy được lành bệnh”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Hôm đó là ngày lễ của người Do-thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại Giêrusalem, gần cửa “Chiên”, có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt. Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm. Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: “Anh muốn được lành bệnh không?” Người đó thưa: “Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi”. Chúa Giêsu nói: “Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về”. Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi. Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do-thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng: “Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng”. Anh ta trả lời: “Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: “Vác chõng mà đi”. Họ hỏi: “Ai là người đã bảo anh “Vác chõng mà đi?” Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó.

Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. Anh ta đi nói cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh.

Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat.

Ðó là lời Chúa.

 

LECTIO DIVINA Ga 5, 1-3a.5-16

1) Kinh khai mạc

Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con, Chúa đã làm dịu cơn khát cho sự sống của chúng con  Với nước của bí tích thanh tẩy. Xin Chúa hãy biến sa mạc đời sống khô cằn của chúng con Thành thiên đường của bình an và mừng vui, Nguyện xin cho chúng con có thể sinh hoa kết trái Về thánh thiện, công lý và bác ái. Lạy Chúa, xin nhậm lời chúng con cầu nguyện Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

2) Bài Tin Mừng : Gioan 5:1-16 

Hôm đó là ngày lễ của người Do Thái, Chúa Giêsu đến Giêrusalem.  Tại Giêrusalem, gần cửa “Chiên”, có một cái hồ, tiếng Do Thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại nằm la liệt.

Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm.  Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh ta đã đau từ lâu, liền hỏi:  “Anh muốn được lành bệnh không?” Người đó thưa:  “Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động.  Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi”.  Chúa Giêsu nói:  “Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về”.  Tức khắc, người ấy được lành bệnh.  Anh ta vác chõng và đi. 

Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbát, nên người Do Thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng:  “Hôm nay là ngày Sabbát, anh không được phép vác chõng”.  Anh ta trả lời:  “Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi:  ‘Vác chõng mà đi’”.  Họ hỏi:  “Ai là người đã bảo anh ‘Vác chõng mà đi’?”  Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó.

Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong Đền Thờ, Người nói:  “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. 

Anh ta đi nói cho người Do Thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh. Vì thế, người Do Thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbát. 

3) Suy ngắm

Bài Tin Mừng hôm nay kể về chuyện Chúa Giêsu chữa lành người bại liệt, người mà đã chờ đợi ba mươi tám năm để có một ai đó giúp đem anh ta xuống hồ để được lành bệnh!  Ba mươi tám năm!  Trước việc hoàn toàn thiếu sự tương trợ này, Chúa Giêsu làm gì?  Người đã phá giới răn giữ ngày Sabbát và chữa người bại liệt.  Ngày nay, ở các nước chậm tiến, việc trợ giúp cho người bệnh tật thì thiếu thốn, người ta cũng có cùng kinh nghiệm của việc thiếu tương trợ.  Họ sống trong cảnh hoàn toàn bị bỏ rơi, không có sự giúp đỡ hay tương trợ của bất cứ ai.      

  Ga 5:1-2 :  Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem.  Nhân dịp ngày lễ hội của người Do Thái, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem.  Ở đó, gần Đền Thờ có một hồ nước với năm hành lang.  Vào thời ấy, việc thờ phượng trong Đền Thờ đòì hỏi nhiều nước bởi vì vô vàn các con vật bị dùng làm của lễ, đặc biệt là trong các ngày lễ lớn.  Đây là lý do tại sao, gần Đền Thờ có nhiều bể nước hứng nước mưa.  Một số bể có thể chứa hơn ngàn lít nước.  Gần đó, vì nước dư tràn, có một khu nghỉ mát với nhà tắm công cộng, nơi mà đông người bệnh tụ tập chờ đợi được giúp đỡ hoặc để được chữa lành.  Khoa khảo cổ học đã cho thấy rằng ở các vùng ngoại vi của Đền Thờ, có nơi mà các Kinh Sư đã giảng dạy Lề Luật cho các học viên.  Một mặt, giảng dạy Lề Luật Thiên Chúa.  Mặt khác, bỏ rơi kẻ khó nghèo.  Nước đã thanh tẩy Đền Thờ, nhưng nó đã không thanh tẩy được người ta. 

  Ga 5:3-4:  Tình trạng bệnh nhân.  Những bệnh nhân này bị lôi cuốn bởi nước của khu nghỉ mát.  Họ nói rằng thiên thần sẽ khuấy nước lên và người đầu tiên xuống nước sau khi thiên thần khuấy nước lên, thì dù mắc bệnh gì đi nữa cũng được khỏi.  Nói cách khác, các người bệnh bị lôi cuốn bởi một hy vọng hão huyền.  Việc chữa lành chỉ dành cho một người duy nhất.  Giống như chơi sổ xố thời nay.  Chỉ có một người được thắng giải!  Đa số người chơi trả tiền và chẳng thắng gì.  Một cách chính xác, trong tình huống hoàn toàn bị bỏ rơi này, nơi hồ tắm công cộng, Chúa Giêsu gặp người bệnh.

  Ga 5:5-9:  Chúa Giêsu chữa lành người bị bệnh vào ngày Thứ Bảy.  Rất gần với nơi mà việc tuân giữ Lề Luật Thiên Chúa được giảng dạy, một người bất toại đã nằm ở đấy ba mươi tám năm, chờ đợi một ai đó sẽ giúp anh ta xuống nước để được lành bệnh.  Sự kiện này cho thấy hoàn toàn thiếu vắng sự tương trợ và chấp nhận những kẻ bị loại trừ!  Con số ba mươi tám chỉ về thời gian của cả một thế hệ (Đnl 2:14).  Cả một thế hệ không thành công để trải nghiệm tình tương trợ, hay lòng xót thương.  Tôn giáo vào thời ấy, không có khả năng mặc khải khuôn mặt thân thiện và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa.  Khi đối diện với tình trạng bi đát này, Chúa Giêsu đã phá giới về ngày Thứ Bảy và chăm sóc người bất toại và nói rằng:  “Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về!”  Tức khắc, anh ta vác chõng và bắt đầu đi vào giữa đám đông.

  Ga 5:10-13:  Cuộc đối thoại giữa người được khỏi bệnh và những người Do Thái.  Ngay lập tức sau đó, một vài người Do Thái đến và chỉ trích người vừa được khỏi bệnh đang vác chõng vào ngày Thứ Bảy.  Người vừa được khỏi bệnh không biết ai đã chữa mình khỏi bệnh.  Anh ta không biết Chúa Giêsu.  Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu đi ngang qua nơi đó, nơi những người nghèo khổ và bệnh hoạn và trông thấy người ấy; Chúa cảm thấy tình cảnh khốn khổ của anh ta và đã chữa lành anh ta.  Người không chữa lành để cải đổi anh ta, cũng chẳng phải để anh ta tin vào Thiên Chúa.  Người chữa lành anh ta chỉ vì Người muốn giúp anh ta.  Người muốn anh ta trải nghiệm được lòng yêu thương và tình tương trợ qua sự giúp đỡ và chấp nhận yêu thương của mình.  

  Ga 5:14-16:  Người được khỏi bệnh gặp lại Chúa Giêsu.  Vào trong Đền Thờ, ở giữa đám đông, Chúa Giêsu gặp lại người được khỏi bệnh và bảo anh ta:  “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”.  Vào thời ấy, người ta nghĩ và cho rằng:  “Bệnh tật là một sự trừng phạt của Thiên Chúa.  Thiên Chúa ở cùng bạn!”  Một khi người ấy được chữa lành, anh ta phải giữ không phạm tội nữa, để việc khốn khổ hơn sẽ không xảy ra với anh ta!  Nhưng với sự ngờ nghệch của mình, anh ta đi nói với người Do Thái rằng Chúa Giêsu đã chữa cho anh ta khỏi bệnh.  Người Do Thái bắt đầu truy cứu Chúa Giêsu tại sao Người làm những điều đó vào ngày Sabbát.  Trong bài Tin Mừng vào ngày mai, chúng ta biết những gì xảy ra sau đó.

4) Hiến Luật Salêdiêng

HL 53. Các hội viên cao niên và đau yếu           

Các cộng thể đùm bọc các hội viên cao niên và đau yếu bằng sự săn sóc và thương mến.

Khi góp phần phục vụ theo khả năng và chấp nhận thân phận mình, các hội viên ấy là nguồn chúc lành cho cộng thể, làm cho tinh thần gia đình được phong phú và làm cho sự hiệp nhất của cộng thể được sâu xa hơn.

Đời sống của họ mang một ý nghĩa tông đồ mới: nhờ lấy đức tin mà dâng hiến những giới hạn và những đau đớn vì lợi ích của anh em và thanh thiếu niên, họ kết hợp với cuộc thương khó cứu độ của Chúa và tiếp tục tham dự vào sứ mệnh Salêdiêng.

5) Câu hỏi cá nhân

  Có bao giờ tôi đã có một kinh nghiệm tương tự như của người bất toại chưa:  nằm một chỗ trong một thời gian mà không có ai giúp đỡ không?  Tình trạng liên quan đến việc giúp đỡ những người bệnh tật tại nơi bạn sống thì ra sao?  Bạn có nhận thấy dấu hiệu nào của sự tương trợ không?

–  Việc này dạy cho chúng ta điều gì ngày nay?

6) Kinh kết thúc

Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta. Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo. Nên dầu cho địa cầu chuyển động, Núi đồi có sập xuống biển sâu, Dầu cho sóng biển ầm ầm sôi sục, Núi đồi có lảo đảo khi thủy triều dâng, Ta cũng chẳng sợ gì. (Tv 46:1-3)

Các bài viết Lectio Divina trên website Dòng Cát Minh. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện.

Lm. GB. Nguyễn Văn Thêm, SDB dịch và bổ sung phần Salêdiêng.

 

Suy niệm 1

Nếu tôi bị đui mù, què qoặt thì chuyện gì sẽ xảy đến với tôi? Khi chúng ta đặt câu hỏi này thì hẳn là điều ấy vẫn chưa xảy đến với chúng ta, đó mới chỉ là một giả thiết được nêu lên. Nhưng nếu nghiêm túc đặt mình vào trường hợp bị đui mù, bị què thì chúng ta sẽ ra sao? Chắc chắn rằng không ai trong chúng ta mong ước mình có đôi mắt mờ, mắt choét, mắt chột, mắt mù, chân tay què quặt; nhưng ngược lại ai cũng hy vọng mình có đôi mắt sáng, một thân thể lành mạnh. Như vậy thật là một thảm họa, một thiệt thòi lớn khi ai đó trong chúng ta bỗng dưng bị mù hoặc bị gãy tay chân thành tật suốt đời. Khi điều ấy xảy đến với tôi thì chắc chắn rằng tôi không thể chạy nhảy tung tăng, tôi không thể tự mình làm mọi điều như trước kia nữa và tôi sẽ bị hạn chế nhiều điều. Điều đáng nói ở đây là tôi sẽ thật sự gặp phiền phức lớn nếu không có người giúp sức.

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật lại việc Chúa Giêsu chữa một người đau ốm ở hồ nước tại Bết-da-tha. Chính tại đây “có một người đau ốm đã ba mươi tám năm“, Đức Giêsu thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: “Anh có muốn khỏi bệnh không?” Bệnh nhân đáp: “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đưa tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi!” Câu trả lời của anh cho chúng ta thấy rõ rằng không có ai giúp anh chàng tội nghiệp này cả, thực trạng này đã kéo dài 38 năm. Bởi lẽ nếu có người giúp thì anh đã có cơ may thoát khỏi số phận nghiệt ngã ấy, chính vì không ai giúp mà anh chàng vẫn lê lết trong hy vọng nhỏ nhoi về vận số của mình được may mắn hơn trong những lần sau. Điều ấy được thể hiện bằng việc anh vẫn đến hiện diện ở hồ nước này mỗi năm và năm nay anh may mắn được gặp chính Đức Giêsu.

Chính trong cuộc gặp gỡ và chỉ với vài lời trao đổi giữa Đức Giêsu với anh chàng bệnh nhân này mà chúng ta nhận ra thực trạng đau lòng của anh: không ai quan tâm, hay nói cách khác mọi người đang “dửng dưng” với anh và anh đã quá quen thuộc đến độ khi được hỏi rằng anh có muốn khỏi bệnh hay không thì câu trả lời của anh phảng phất một niềm tin trong vô vọng “không có người đưa tôi xuống hồ“. Rõ ràng là con người chúng ta sẽ mãi khổ sở khi không có ai người giúp đỡ mình, chúng ta không thể tự xoay xở một mình trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn cần đến sự trợ giúp từ phía tha nhân là vậy. Cũng một thực trạng tương tự như anh, nhiều bệnh nhân thời anh hay thời nay cũng hy vọng được chữa lành, nhưng rất ít người được lành. Điều này giúp chúng ta hiểu sâu xa rằng một mình con người không thể tự cứu lấy mình, con người chúng ta cần có Chúa Giêsu để được chữa lành cả phần xác lẫn linh hồn. Ơn cứu độ không thể đạt được nếu chỉ độc nhất một ai đó đi theo con đường của riêng mình mà không mở ra tương quan với tha nhân cùng sự trợ giúp của Ơn Chúa.

Một trong những điều đáng thương khác nơi anh chàng bệnh nhân này chính là anh chưa thật sự sẵn sàng cho điều mình mong ước, nguyện ước được chữa lành và được giúp đỡ chưa được anh bày tỏ cách mãnh liệt. Trường hợp của anh cũng có thể được xem là tấm gương thu nhỏ phản ánh thực trạng của chính chúng ta hiện nay: chúng ta có bệnh, chúng ta bị mắc kẹt trong nhiều tình huống và đặc biệt là sự què quặt về đức tin trong tâm hồn, nhưng chúng ta chưa sẵn sàng đón nhận sự giúp đỡ từ người khác và ơn riêng của Thiên Chúa, trong khi chúng ta không ngừng than van và cầu xin sự trợ giúp cách này cách khác. Chúng ta đã thiếu đi lòng thành và niềm tin nơi Thiên Chúa. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu nhắc nhở người bệnh: “Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước” là vì yếu lòng tin mà anh đã tìm đến ngôi đền ngoại giáo để được chữa lành, mất trắng 38 năm chờ đợi, cũng như thời xưa dân Do Thái đã từng luẩn quẩn 38 năm trời ở ốc đảo Ca-đê trong sa mạc trước khi vào được miền đất hứa.

Bài Tin Mừng như lời mời gọi mỗi người chúng ta trong mùa chay thánh này hãy biết quay trở về với chính mình, nhận ra thực trạng tội lỗi, sự què quặt của tâm hồn mình để sẵn sàng hoán cải và được chữa lành. Chúng ta hãy thực lòng bày tỏ ước vọng được chữa lành, được trở về với ân sủng,  cùng xin Chúa tha thứ và đổi mới tâm thần cùng thân xác để xứng đáng là con cái Chúa.  Đồng thời chúng ta cũng không quên nhìn sang tương quan với tha nhân, tự hỏi mình rằng liệu tôi có dửng dưng, thờ ơ hay vô cảm khi người khác cần đến sự trợ giúp của tôi?

Giuse Đinh Thành Đạt SDB

 

Suy niệm 2

Một người bệnh nằm 38 năm để chờ một cơ hội, chờ một lần được là người đầu tiên xuống nước khi thiên thần Chúa xuống hồ khuấy nước lên để được khỏi bệnh, một tia hy vọng mong manh. 38 năm dài đằng đẵng, không một ai giúp: tôi không được ai giúp, không có người đem tôi xuống hồ, tôi không có ai cả…

Câu trả lời dường như chứa đựng cả 38 năm đau khổ, gánh nặng và thất vọng, vì anh ta chỉ có một mình với thân thể tật nguyền. Gia đình, bạn bè, chẳng có ai quan tâm, chẳng ai giúp đỡ. Những người bệnh khác cũng chẳng thèm nhường anh ta. 38 năm trời không một cánh tay giúp đỡ, trong khi ở đó không thiếu những người khỏe mạnh. Câu trả lời dường như là một lời kết án một xã hội vô cảm.

Nhưng anh ta vẫn hy vọng. Kéo dài 38 năm trời. Trong khi không còn niềm hy vọng vào con người, thì Đức Kitô đến…và lòng thương xót Chúa hoạt động…Đỉnh cao của sự vô cảm, và của thói nệ luật là ở đây: một con người 38 năm trời nằm ở đó không ai để ý, chỉ để ý khi anh ta vác chõng ra về vào ngày sabát, và kết án anh ta…

Có thể trong gia đình, hàng xóm, hay xung quanh chúng ta, vẫn có những người nghẹn ngào thở than: không có ai giúp tôi cả…tôi không còn ai…Chúng ta bỏ quên họ, để họ một mình chống chọi với dòng đời nghiệt ngã. Biết đâu có ai đó cũng đang trách bạn, trách tôi.

Hay tôi cũng chỉ nói: tôi không có ai cả, không có ai cần tôi giúp cả, tôi không „thấy” ai cần giúp cả, tôi không quen ai đang cần sự giúp đỡ của tôi cả…

Đây là lúc chúng ta thực hành lòng thương xót, hãy để lòng thương xót vận hành trong bạn, hãy tìm kiếm và đi bước trước tới những người cần chúng ta nhất, hãy biến bạn thành „người của họ, người giúp họ”. Không phải vì thương hại, nhưng là vì bạn nhìn thấy hình ảnh Chúa Giêsu trong người khác, trong người đau khổ và bị bỏ rơi. 

Hãy lay động lòng thương xót, hãy để thiên thần Chúa khuấy động tâm hồn bạn, khuấy động mặt nước lặng im là sự bàng quan, hờ hững, vô cảm, vô tâm…hãy để thiên thần Chúa khuấy động lòng thương xót trong bạn…

Giacôbê Nguyễn Hải Ly SDB

 

Suy niệm 3

Lời Chúa ngày hôm nay giúp chúng ta suy tư về nguồn nước như nguồn mạch sự sống. Trong bài đọc I, tiên tri Edêkiên an ủi dân chúng qua thị kiến về Giêrusalem mới, và từ trong Đền Thờ vọt ra nguồn nước. Nước chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống. Trong Cựu Ước, với dấu chỉ nước vọt ra từ tảng đá xoa dịu cơn khát của dân Ít-ra-en trong sa mạc, nước biểu trưng cho phúc lành của Thiên Chúa và của ơn cứu độ.

Cùng một ý nghĩa đó, nước biểu trưng sự sống, sự sống lại và biểu trưng cho bí tích rửa tội. Chính Chúa Giêsu là phúc lành của Thiên Chúa dành cho dân người. Tại Cana, Chúa Giêsu đã biến nước lã thành rượu ngon. Tại giếng nước Giacóp, Chúa đã tỏ lộ chính Ngài là mạch nước trường sinh đem lại sự sống vĩnh cửu.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem. Khi lên thành phố này, Chúa Giêsu gặp một anh chàng bị bệnh đã lâu, 38 năm, nằm bên hồ nước Bét-da-tha. Không ai đến giúp anh ta, nên anh ta không thể xuống hồ nước như ước nguyện. Chúa Giêsu đã chữa lành anh ta, không chỉ thể xác, mà còn cả tâm linh.

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cũng hỏi chúng ta: anh có muốn khỏe mạnh không? Anh có muốn khỏi bệnh không? Anh có muốn chỗi dậy và tiếp tục hành trình của mình không? Hãy tái khám phá giá trị của bí tích giải tội, và năng chạy đến bí tích Giao Hòa, để chúng ta có thể được tái sinh và sống xứng đáng là con Chúa.

Lạy Chúa,

Con cám ơn Chúa vì nguồn nước xoa dịu cơn khát, và giúp cho con sống

Xin cho con biết khám phá nguồn nước đích thực đem lại sự sống đời đời,

đem lại nguồn vui đích thực là chính Chúa. Amen.

Fx. Phạm Đình Phước SDB

Từ khoá:

Bài viết liên quan Các Mùa

THỨ NĂM TUẦN 3 MÙA VỌNG
THỨ TƯ TUẦN 3 MÙA VỌNG
THỨ BA TUẦN 3 MÙA VỌNG
THỨ HAI TUẦN 3 MÙA VỌNG