THỨ TƯ TUẦN 19 THƯỜNG NIÊN

THỨ TƯ TUẦN 19 THƯỜNG NIÊN

Bài Ðọc I: (Năm I) Ðnl 34, 1-12

“Môsê qua đời tại đó như Chúa đã truyền dạy, và không còn tiên tri nào như ông đứng lên nữa”.

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Trong những ngày ấy, ông Môsê từ đồng bằng Moab đi lên núi Nêbô, ngọn núi Phasga, ngay trước mặt thành Giêricô. Và Chúa cho ông thấy khắp xứ Galaad cho đến Ðan, cả miền Nephtali, đất Ephraim và Manassê, cả xứ Giuđa cho đến Biển Tây, phần đất phía nam vùng đồng bằng rộng lớn Giêricô, là thành cây chà là, cho đến Sêgor. Chúa phán cùng ông rằng: “Ðây là Ðất Ta đã thề hứa với Abraham, Isaac và Giacóp bằng những lời này: “Ta sẽ ban nó cho con cháu ngươi”. Ta đã cho ngươi thấy tận mắt xứ ấy, nhưng ngươi sẽ không được qua đến đó”.

Môsê, tôi tớ của Chúa, đã qua đời tại đó, trên đất Moab, như Chúa đã truyền dạy. Ông được chôn cất trong thung lũng tại xứ Moab, ngay trước mặt thành Phegor. Mãi đến nay, không ai biết ngôi mộ của ông. Khi Môsê qua đời, ông được một trăm hai mươi tuổi: mắt vẫn chưa mờ và răng vẫn chưa lung lay. Con cái Israel thương khóc ông suốt ba mươi ngày trong đồng bằng Moab. Ngày thọ tang Môsê chấm dứt, thì Giosuê, con ông Nun, được đầy tinh thần khôn ngoan, vì Môsê đã đặt tay trên ông. Con cái Israel vâng lời ông, thi hành mệnh lệnh Chúa đã truyền cho Môsê.

Về sau, trong Israel không còn tiên tri nào như Môsê đứng lên nữa: ông là người Thiên Chúa từng quen mặt. Biết bao dấu lạ, kỳ công Chúa đã sai ông làm trong đất Ai-cập, chống lại Pharaon cùng tất cả triều thần và xứ sở vua ấy. Môsê đã tác oai và làm những việc kỳ diệu vĩ đại trước mắt toàn thể Israel.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 65, 1-3a. 5 và 8. 16-17

Ðáp: Chúc tụng Chúa là Ðấng đã ban cho linh hồn chúng tôi được sống (c. 20a & 9a).

Xướng: 1) Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy ca ngợi vinh quang danh Người; hãy kính dâng Người lời khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa. – Ðáp.

2) Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa. Người thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta! Hỡi chư dân, hãy chúc tụng Thiên Chúa chúng tôi, và loan truyền lời ca khen Người. – Ðáp.

3) Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao. Tôi đã mở miệng kêu lên chính Chúa, và lưỡi tôi đã ngợi khen Người. – Ðáp.

Alleluia: Gc 1, 21

Alleluia, alleluia! – Anh em hãy khiêm nhu nhận lãnh lời giao ước trong lòng, lời đó có thể cứu thoát linh hồn anh em. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 18, 15-20

“Nếu nó nghe ngươi, thì ngươi đã lợi được người anh em”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu anh em con lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng con và nó thôi. Nếu nó nghe con, thì con đã lợi được người anh em. Nếu nó không nghe lời con, hãy đem theo một hoặc hai người nữa, để mọi việc được giải quyết nhờ lời hai hoặc ba nhân chứng. Nếu nó không nghe họ, hãy trình với cộng đoàn. Và nếu nó cũng không nghe cộng đoàn, con hãy kể nó như người ngoại giáo và như người thu thuế.

“Thầy bảo thật các con, những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc, và những gì các con tháo gỡ dưới đất thì trên trời cũng tháo gỡ.

“Thầy cũng bảo thật các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”.

Ðó là lời Chúa.

LECTIO DIVINA: Mt 18, 15-20

NGÀY 14-08-2019

“If he listens to you, you have won back your brother” “Nếu nó nghe ngươi, thì ngươi đã lợi được người anh em”
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Almighty and ever-living God, your Spirit made us your children, confident to call you Father. Increase your Spirit within us and bring us to our promised inheritance. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen. Lạy Thiên Chúa Toàn năng Hằng hữu. Thần Khí Chúa đã biến đổi chúng con thành con cái Chúa, tin tưởng gọi Chúa là Cha. Xin Chúa gia tăng Thần Khí Chúa nơi chúng con và cho chúng con được hưởng gia nghiệp Chúa đã hứa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa và Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa đến muôn đời. Amen.
2) Gospel Reading : Matthew 18,15-20 2) Tin Mừng : Mt 18, 15-20
Jesus said to his disciples. ‘If your brother does something wrong, go and have it out with him alone, between your two selves. If he listens to you, you have won back your brother. If he does not listen, take one or two others along with you: whatever the misdemeanour, the evidence of two or three witnesses is required to sustain the charge. But if he refuses to listen to these, report it to the community; and if he refuses to listen to the community, treat him like a gentile or a tax collector. ‘In truth I tell you, whatever you bind on earth will be bound in heaven; whatever you loose on earth will be loosed in heaven. ‘In truth I tell you once again, if two of you on earth agree to ask anything at all, it will be granted to you by my Father in heaven. For where two or three meet in my name, I am there among them.’ Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu anh em con lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng con và nó thôi. Nếu nó nghe con, thì con đã lợi được người anh em. Nếu nó không nghe lời con, hãy đem theo một hoặc hai người nữa, để mọi việc được giải quyết nhờ lời hai hoặc ba nhân chứng. Nếu nó không nghe họ, hãy trình với cộng đoàn. Và nếu nó cũng không nghe cộng đoàn, con hãy kể nó như người ngoại giáo và như người thu thuế.

“Thầy bảo thật các con, những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc, và những gì các con tháo gỡ dưới đất thì trên trời cũng tháo gỡ.

“Thầy cũng bảo thật các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”. Đó là lời Chúa.

3) Reflection 3) Suy ngắm
• In the Gospel of today and of tomorrow we read and meditate on the second half of the Discourse of the Community. Today’s Gospel speaks about fraternal correction (Mt 18, 15-18) and of prayer in common (Mt 18, 19-20). The Gospel of tomorrow speaks about pardon (Mt 18, 21-22) and presents the parable of pardon without limitations (Mt 18, 23-35). The key word in this second part is “to forgive”. The accent is on reconciliation. In order that there may be reconciliation which will allow the little ones to return, it is important to know how to dialogue and to forgive, because the foundation of fraternity is the gratuitous love of God. It is only in this way that the community will be a sign of the Kingdom. It is not easy to forgive. There is a certain grief which continues to strike the heart as with a hammer. There are persons who say: “I forgive, but I do not forget!” There is: resentment, tensions, clashes, diverse opinions, and offences, provocations which render pardon and reconciliation difficult. * Trong Tin Mừng hôm nay và ngày mai, chúng ta đọc và suy ngắm phần thứ hai của Diễn từ về Cộng đoàn. Bài Tin Mừng hôm nay nói về việc sửa bảo huynh đệ (Mt 18, 15-18) và việc đọc kinh chung (Mt 18, 19-20). Bài Tin Mừng ngày mai nói về việc tha thứ (Mt 18, 21-22) và trình bày dụ ngôn về sự tha thứ không giới hạn (Mt 18, 23-25). Chữ chính yếu trong phần hai này là “tha thứ”. Sự nhấn mạnh ở sự giao hòa. Để có thể có sự giao hòa nhờ đó người bé nhỏ sẽ trở lại, điều quan trọng là biết cách đối thoại và tha thứ, vì nền tảng của tình huynh đệ là tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa. Chỉ có trong các này cộng đoàn mới trở thành dấu chỉ Nước Trời. Tha thứ không phải là dễ. Vẫn còn đó sự đau đớn đánh vào tâm hồn chúng ta như cái búa. Có người nói : “Tôi tha thứ, nhưng tôi không quên!” Có sự resentment, căng thẳng, clashes, ý kiến khác nhau, những sự xúc phạm, provocations làm cho việc tha thứ và giao hòa nên khó khăn.
• The organization of the words of Jesus in the five Great Discourses of the Gospel of Matthew indicates that at the end of the first century, the communities had very concrete forms of catechesis. The Discourse of the Community (Mt 18, 1-35), for example gives updated instructions of how to proceed in case of any conflict among the members of the community and how to find criteria to solve the conflicts. Matthew gathers together those phrases of Jesus which can help the communities of the end of the first century to overcome the two more acute problems which they had to face at that moment, that is, the exodus of the little ones because of the scandal given by some and the need to dialogue in order to overcome the rigor of others in accepting the little ones, the poor, in the community. * Việc sắp xếp những lời dạy dỗ của Chúa Giêsu trong năm Diễn Từ Lớn của Tin Mừng Matthêu nêu lên cho chúng ta biết, vào cuối thế kỷ thứ nhất, các cộng đoàn đã có những hình thức huấn giáo rất cụ thể. Diễn từ về Cộng đoàn, chẳng hạn (Mt 18, 1-35), cống hiến những lời giáo huấn luôn được cập nhật là phải tiến hành như thế nào khi có xung khắc giữa các thành viên của cộng đoàn và phải tìm những tiêu chuẩn nào đề giải quyết những xung khắc đó. Thánh Matthêu tập trung những câu nói của Chúa Giêsu để giúp các cộng đoàn vào cuối thế kỷ thứ nhất vượt qua hai vấn đề acute họ gặp phải lúc bấy giờ, đó là sự ra đi của những người bé nhỏ, vì gương mù của một số người và nhu cầu đối thoại để vượt qua tính khắt khe của người khác để đón nhận những người bé nhỏ, những người nghèo trong cộng đoàn.
• Matthew 18, 15-18: Fraternal correction and the power to forgive. These verses give simple norms of how to proceed in case of conflicts in the community. If a brother or a sister should sin, if they had behaviour not in accordance to the life of the community, they should not be denounced immediately. First, it is necessary to try to speak with them alone. Then it is necessary to try to know the reasons of the other. If no results are obtained, then it is necessary to take two or three persons of the community to see if it is possible to obtain some result. Only in extreme cases, it is necessary to expose the problem to the whole community. And if the person refuses to listen to the community, then they should be considered by you as “a sinner or a pagan”, that is, as someone who is not part of the community. Therefore, it is not you who excludes, but it is the person himself/herself who excludes himself/herself. The community gathered together only verifies or ratifies the exclusion. The grace to be able to forgive and to reconcile in the name of God was given to Peter (Mt 16, 19), to the Apostles (Jn 20, 23) and, here in the Discourse of the Community, to the community itself (Mt 18, 18). This reveals the importance of the decisions which the community assumes in regard to its members. * Mt 18, 15-18 : Sửa bảo huynh đệ và sức mạnh của sự tha thứ. Nhưng câu này cống hiến những quy tắc đơn sơ để tiến hành trong trường hợp có những xung khắc trong cộng đoàn. Nếu có người phạm tội, nếu họ cư xử không phù hợp với đời sống cộn đoàn, không được loại bỏ họ ngay. Thứ nhất, cần phải cố gắng nói chuyện riêng với họ. Tiếp đến, cần phải tìm hiểu lý do của họ. Nếu không đạt được kết quả, tiếp đến, cần phải có hai hoặc ba người trong cộng đoàn hầu đạt được một kết quả nào đó. Chỉ trong những trường hợp tột độ, mới đưa vấn đề cho toàn thể cộng đoàn. Và nếu người ta từ chối, không nghe cộng đoàn, thì anh em có thể cho họ là “người tội lỗi hoặc là người ngoại”, tức là người không thuộc về cộng đoàn. Như vậy, không phải anh em là người loại họ, nhưng chính họ là người loại mình. Cộng đoàn họp lại chỉ để kiểm chứng và xác nhận sự khai trừ đó. Ơn để có thể tha thứ và giao hòa nhân danh Chúa đã được ban cho Thánh Phêrô (Mt 16, 19), cho các Tông đồ (Ga 20, 23) và trong Diễn từ về Cộng đoàn, được ban cho chính cộng đoàn (Mt 18, 18). Điều này tỏ cho thấy tầm mức quan trọng của các quyết định cộng đoàn quyết định đối với các thành viên của mình.
• Matthew 18, 19: Prayer in common. The exclusion does not mean that the person is abandoned to his/her own fate. No! The person may be separated from the community, but will never be separated from God. In the case in which the conversation in the community does not produce any result, and the person does not want to be integrated in the life of the community, there still remains the last possibility to remain together with the Father to obtain reconciliation, and Jesus guarantees that the Father will listen: “If two of you agree to ask anything at all, it will be granted to you by my Father in Heaven; for where two or three meet in my name, I am there among them”. * Mt 18, 19 : Cầu nguyện chung. Việc loại bỏ không có nghĩa là người đó bị bỏ rơi trong số phận của họ. Không! Người đó có thể bị tách ra khỏi cộng đoàn, nhưng không bao giờ bị tách khỏi Thiên Chúa. Trong trường hợp cuộc đối thoại trong cộng đoàn không đạt được kết quả nào, và người đó không muốn gia nhập vào đời sống cộng đoàn, vẫn còn có một khả thể cuối cùng là ở với Chúa Cha để nhận được sự giao hòa, và Chúa Giêsu bảo đảm rằng Chúa Cha sẽ nhậm lời : “Nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”.
• Matthew 18, 20: The presence of Jesus in the community. The reason of the certainty of being heard by the Father is the promise of Jesus: “Because where there are two or three who meet in my name, I am there among them!” Jesus is the centre, the axis, of the community, and, as such, together with the Community, it will always be praying with us to the Father, in order that he may grant the gift of the return of the brother or the sister who have excluded themselves. * Mt 18, 20 : Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cộng đoàn. Lý do cho sự chắc chắn sẽ được Chúa Cha nhậm lời là lời hứa của Chúa Giêsu : “Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy!” Chúa Giêsu là trung tâm, là trục của cộng đoàn, và như vậy, cùng với Cộng đoàn, Ngài sẽ luôn cùng với chúng ta cầu xin Chúa Cha ban ơn trở lại cho anh chị em bị loại ra ngoài.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
51.  Relationships of fraternal friendship

St Paul exhorts us: “Put on, as God’s chosen ones, holy and beloved, compassion, kindness, lowliness, meekness and patience, forbearing one another and, if one has a complaint against another, forgiving each other”.1

The family spirit is the hallmark of the Salesian community and inspires every moment of its life: work and prayer, meals and recreation, meetings and other encounters.

In an atmosphere of brotherly friendship we share our joys and sorrows, and we are partners in our apostolic plans and experiences.

51. Những giao tiếp bằng hữu huynh đệ

Thánh Phaolô khích lệ chúng ta: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy mặc lấy những tâm tình của lòng từ bi, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ, nhẫn nại. Hãy chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau”1.

Cộng thể Salêdiêng nổi bật về tinh thần gia đình. Tinh thần này làm sinh động mọi giây phút cuộc sống cộng thể: khi làm việc và cầu nguyện, lúc ăn uống và nghỉ ngơi, khi hội họp và gặp gỡ.

Trong bầu khí đầy tình bằng hữu huynh đệ, chúng ta thông truyền cho nhau những niềm vui và đau buồn, và trong tinh thần đồng trách nhiệm chúng ta chia sẻ với nhau những kinh nghiệm và kế hoạch tông đồ.

or :

hoặc :

90.  The community in continual conversion

The Word of God calls us to continual conversion.

Aware of our weakness, we respond by vigi­lance and sincere repentance, brotherly cor­rection, mutual forgiveness and the calm ac­ceptance of our dally cross.

This commitment to conversion on the part of each member and of the whole commu­nity is brought to its fulfilment by the sacra­ment of Reconciliation.

Prepared by the dally examination of con­science and received frequently according to the Church’s directives, this sacrament gives us the joy of the Father’s pardon, rebuilds brotherly communion, and purifies our apostolic intentions.

90. Cộng thể trong sự hoán cải liên tục

Lời Chúa mời gọi chúng ta hoán cải liên tục.

Ý thức về sự yếu đuối của mình chúng ta đáp lại bằng sự tỉnh thức và lòng thống hối chân thành, bằng việc sửa bảo huynh đệ và tha thứ lẫn nhau, bằng việc bình thản chấp nhận thập giá hằng ngày.

Bí tích Hòa Giải hoàn tất nỗ lực thống hối của mỗi người và của toàn cộng thể.

Được chuẩn bị bằng việc xét mình hằng ngày và được lãnh nhận thường xuyên theo các chỉ dẫn của Giáo Hội, bí tích này ban cho ta niềm vui vì được Cha tha thứ, tái lập sự hiệp thông huynh đệ và thanh luyện những ý hướng tông đồ.

5) Personal questions 5) Câu hỏi cá nhân
• Why is it so difficult to forgive? In our community, is there some space for reconciliation? In which way? * Tại sao lại khó tha thứ như vậy? Trong cộng đoàn chúng ta, có chỗ nào dành cho sự giao hòa không? Bằng cách nào?
• Jesus says: “For wherever there are two or three who meet in my name, I am also there among them”. What does this mean for us today? * Chúa Giêsu nói : “Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”. Lời này có ý nghĩa như thế nào cho chúng ta ngày nay?
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
Praise, servants of Yahweh, praise the name of Yahweh. Blessed be the name of Yahweh, henceforth and for ever. (Ps 113,1-2) Hỡi tôi tớ CHÚA, hãy dâng lời ca ngợi, nào ca ngợi danh thánh CHÚA đi !  Chúc tụng danh thánh CHÚA, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời! (Tv 113, 1-2)

Về Tác Giả và Dịch Giả: 

Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.

http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date

Lm. GB. Nguyễn Văn  Thêm, SDB dịch và bổ sung phần Salêdiêng.

Suy Niệm:

Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây:

Ngày kia khi Đức Giám Mục Amolas đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với Ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống với mình. 

… Từ dạo ấy, vị ẩn tu không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án. 

Thấy Giám Mục Amolas đến, dân làng xúm lại vây quanh Ngài và nói: 

– Hôm nay Đức Cha đã đến đây thì Đức Cha phải chấm dứt ngay lập tức tình trạng sa đọa bê bối, gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia ! 

 Sau khi nghe những lời kết án gây gắt của dân làng, Giám Mục Amolas quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau. 

Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình, ông ta hoảng sợ và cấp tốc bảo người phụ nữ chui vào trốn trong một cái thùng gỗ rỗng. 

Đức Giám Mục là người đầu tiên đến trước túp lều, và cũng là người đầu tiên bước chân vào. Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình tình. Ung dung, Ngài đi thẳng đến chỗ ngồi ngay trên chiếc thùng gỗ để nghỉ chân, nơi người phụ nữ ẩn trốn. Rồi bình thản khoát tay gọi dân làng vào và bảo: 

– Vào đây, các người hãy vào mà lục xét túp lều để tìm người phụ nữ.

Khi họ không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà, Đức Giám Mục mới nói: 

– Bây giờ các ngươi phải quỳ xuống xin lỗi Thiên Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu này vô cớ!

Nhưng sau đó, khi mọi người đã lục tục kéo nhau xuống núi. Đức Giám Mục Amolas tiến gần vị ẩn tu, nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói: 

– Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy !

Hai thái độ khác nhau giữa dân làng và Giám Mục Amolas đối với vị ẩn sĩ lầm lỗi, có thể giúp bản thân mình hiểu rõ hơn về việc tự sửa mình và sửa lỗi lầm của anh em.

Ngược lại với phản ứng của dân làng. Trong một tình trạng khó xử, Đức Giám Mục Amolas đã tìm cách hóa giải vấn đề đã được mọi người xầm xì bàn tán, bình phẩm biến nó thành một vấn đề cá nhân, để tạo dịp thuận tiện nói chuyện diện đối diện với vị ẩn tu.

Tiếp đến, Ngài đã không sửa lỗi ông như một người có thẩm quyền. Trái lại, Ngài đã dùng thẩm quyền của mình bảo vệ cho vị ẩn tu, để sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em.

Và sau cùng, dù không cấu kết với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu đang vấp phạm, cũng như nêu mối nguy hiểm của lỗi lầm này với phần rỗi của đương sự, qua một lời khuyên nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy !”

Như vậy, tinh thần sửa lỗi cho nhau phải hoàn toàn đặt trên nền tảng đức ái, nhằm cứu vãn và xây dựng hơn là áp dụng kỷ luật. Vì đối với Chúa, mọi phương thức phải được sử dụng để đưa người tội lỗi trở về trước khi vấn đề được đưa ra trước cộng đoàn. Và nếu cộng đoàn phải dùng quyền để loại trừ một phần tử bất khả kháng, thì điều này cũng chỉ vì bác ái mà thôi, bác ái đối với đương sự trước tiên, để đương sự biết hồi tâm hoán cải, sau đó bác ái với các phần tử khác trong cộng đoàn, kẻo có ai theo gương xấu mà phạm tội.

Giúp nhau sửa chữa lỗi lầm là một việc rất tốt và rất cần, nhưng chúng ta phải luôn thực hiện trong ý hướng giúp nhau trở nên tốt hơn. Đồng thời, phải thực hiện hết sức khéo léo, tế nhị, đúng lúc, đúng nơi, đúng tình người, hợp lẽ của Chúa và hoàn dùng đến đức ái của Chúa.

Lm. Phêrô Nguyễn Bùi Quốc Khánh SDB

Từ khoá:

Bài viết liên quan Suy niệm Hằng Ngày

THỨ BẢY TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN
THỨ SÁU TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN
THỨ NĂM TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN
THỨ TƯ TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN
THỨ BA TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN
THỨ HAI TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN